Viet NamEnglish (United Kingdom)

Tham khảo ý kiến

Bạn biết đến Huy Phát qua?
 

Thống kê

Thường thức dầu mỡ
TÍNH THỰC DUNG CỦA CÁC CHỈ TIÊU LÝ HÓA In Email

 

 

7.Độ tro và cặn các bon của sản phẩm

 

Trong sản phẩm không bao giờ có tro và cặn cacbon , Các chỉ tiêu này phản ảnh khả năng hình thành các sản phẩm tro và cặn cacbon trong quá trình bôi trơn . Trong động cơ có hiện tượng dầu bị cháy tạo ra những sản phẩm cháy với mức độ khác nhau :cháy thành tro và cháy thành than , cháy dang dở   Nếu dầu chỉ là các hydrocacbon đơn thuần , khi bị cháy hoàn toàn sẽ nhận được CO2 và nước - H2O Trong dầu nhờn thông thường , ngoài thành phần hữu cơ là chính còn có một lương rất nhỏ là các tạp chất vô cơ và những chất cơ-kim của phụ gia mà khi cháy tạo ra các oxit kim loại Trong dầu nhờn thông thường , ngoài thành phần hữu cơ là chính còn có một lương rất nhỏ là các tạp chất vô cơ và những chất cơ-kim của phụ gia mà khi cháy tạo ra các oxit kim loại Tro là sản phẩm vô cơ , là các o xit kim loại ; là phần của dầu nhờn không thể bị đôt thêm hoặc nung cháy .. Tro có tác hại bào mòn với động cơ .Tất nhiên không ai đưa dầu vào động cơ để đốt cá, Bị đôt cháy một phần là kết quả tất yếu của dầu khi bôi trơn cho động cơ, Nếu quá trình cháy diễn ra chưa tới mức hoàn toàn thì sản phẩm nhận được là một hỗn hợp khá phức tạp gồm phần dầu chưa cháy hết , tro ,than , phần dầu bị crăking,v.v....tất cả gọi là cặn cácbon mà theo những tài liệu của Liên xô trước đậy vẫn gọi là Cốc .

 

Cốc được định nghĩa là sản phẩm quá trình cháy thiếu o xi . Việc đánh giá hàm lượng cốc có tính tương đối , vì thiết bị tạo cốc là khá khác nhau, Người ta có thể tạo cốc dầu bằng việc dốt dầu trong điều kiện thiếu không khí trong một chén sứ của một thiết bị đốt gọi là “lò cốc hóa * phương pháp Conradson) và cũng có thể tạo cốc bằng cách đốt trong một ampun thủy tinh có đường khí vào rất hẹp để trong lò đốt bằng điện duy trì ở 500 OC ( Phương pháp Ramsbottom ) 

 

Nhìn tổng quát lại : khi dầu động cơ làm việc , một phần lớn dầu được duy trì để bôi trơn và một phần nhỏ bị cháy tạo ra các sản phẩm ở các mức độ cháy khác nhau gọi là cặn cacbon gồm tro và sản phẩm cháy dở dang , sản phẩm craking, than . CO2 và H2O thoát ra ngoài không khí theo đường xả khí. ,

 

Cặn các bon gây tác hại mài mòn, làm bẩn , keo dính trong động co .Chúng ta có thể tháy nó khi bổ máy .Người ta xácdinh cặn các bon không ở dầu thành phẩm mà ngay từ khi còn ở dạng nguyên liệu đầu vào-dầu gốc để chế dầu động cơ sao cho tạo ra sản phẩm tốt nếu bị cháy thì sẽ không tạo ra nhiều cặn các bon .

 

Tro sunfat

 

Để xác định tro người ta phải đốt và nung sản phẩm ở trên 700OC ,Trong diều kiện này một số oxit kiểu oxit kẽm có thể bay hơi gây thất thoát sai lệch đến kết quả thí nghiệm

 

Do đó người ta cần chuyển chúng sang dạng ổn định hơn đó là dạng sunfat ,Cần sul fat hóa tro, khi này ta có tro sụlfat .

 

Việc đánh giá hàm lượng tro và tro sul fat có ý nghĩa để đánh giá lượng chất vô cơ trong dầu bị nhiễm trong quá trình bôi trơn ( Ví dụ kim loại bị mài mòn lẫn vào dầu) và đánh giá phân kim loại của chất cơ-kim dùng làm phụ gia mà có .

 

Qua xác định tro có thể phát hiện ra dầu thật ( có phụ gia) và dầu giả ( không có phụ gia ) cũng như để nghiên cứu hàm lượng phụ gia bị biến đổi theo thời gian sử dụng dầu .

 

 

 

8,Độ kiềm và a xit

 

Để dánh giá môi trường một chất người ta đo độ pH của chúng , Những chất có pH-7 đươch gọi là chất trung tính . Những chất có pH>7 là những chất kiềm . Những chất có pH<7 là những chất a xit

 

Muốn đánh giá về lượng người ta thông qua các chỉ số : chỉ số axit-TAN và chỉ số kiềm -TBN

 

Thông thường dầu sản xuất ra là trung tính kể vả các dầu tinh chế bằng a xít hoăc kiềm đi nữa đều phải trung hòa mới đi đến sản phẩm lưu hành , Các dầu động cơ hiện đại có pha thêm phụ gia mang tính chất kiềm nên có tính kiêm ,Chỉ số kiềm dầu động cơ thoong thường cỡ 4-10 mg KOH,g dậuong khi đó dầu động cơ hàng hải có chỉ số kiềm rất cao tới cỡ vài chục.

 

Các a xit và kiềm vô cơ

 

Các kiềm và a xít vô cơ là chất ăn mòn mạnh , rất có hại khi sử dụng dầu , chúng khó tan trong dâu nhưng rất dễ tan trong nước . Không có ai điên rồ mà tìm cách pha chúng vào dầu cả .Chúng có thể có trong dầu khi sự trung hòa trong quá trình làm sạch có thiếu sót và khi có sự cố tình phá hoại Có thể phát hiện dễ dàng kiềm hoặc a xit vô cơ bởi vì chúng khác với a xit và kiềm hữu cơ ở chỗ dễ dàng tan trong nước do đó dễ dàng lấy ra bằng nước nên chỉ cần xóc mạnh dầu nhờn với nước trung tính rồi đem kiểm tra phần nước tách ra với chất chỉ thị là phát hiên ra dầu đó có kiềm hoặc a xít vô cơ hay không,

 

Dầu nhờn cũng như các chất hữu cơ nói chung có ehất trung tính có chất mang tính kiềm có chất mang tính a xit . . .

 

Khj định xác định chỉ số kiệm và chỉ số axit ở các phương pháp khác nhau , ở các nước khác nhau có cho những kết quả rất chênh lệch , Nguyên nhân chủ yếu là vấn đề điểm dừng khi chuẩn độ .

 

       -Theo phương pháp Nga- GOST thì chất chỉ thị được dùng là nitrazin vàng

 

có bước chuyển mầu là ở pH= 6.0-7,0 rất gần với 7

 

-       -Theo phương phán của Mỹ ASTM D 974 lại dùng chỉ thị metyl da cam với bước chuyển mầu ở pH=4,2-4,4

 

 

 

Trong quá trình oxi hóa dầu sẽ tạo ra những axit hứu cơ . Điều này được nhận thấy ở chỉ số a xít tăng lên hoặc ở chỉ số kiềm giảm xuống ,

 

Trong khi xác định TAN có khi nhận được giá trị khá lớn nhưng không nên kết luận võ đoán về vấn đề ăn mòn vì khi chuẩn độ có thể tạo ra những môi trường có tính chất đệm

 

làm cho pH rất khó biến đổi mặc dù tốn phí khá nhiều hóa chật

 

Điều hiển nhiên là các dầu động cơ mang phụ gia kiêm tính phải có độ TBN lớn .Đặc điểm này cho chúng ta dễ dàng phân biệt giữa dầu thật và dầu giả ,

 

Chất kiềm trong phụ gia mang kiềm tính không dễ gây ăn mòn tới các kim loại của động cơ,

 

 

 

9).Cặn pen tan cặn Tôluen

 

Trong quá trình sử dung, dầu sinh ra cặn bẩn . Cặn pen tan,cặn toluen,cặn đông tụ là những thuật ngữ khác nhau người ta dùng khi nghiên cứu cặn bẩn,

 

Khi bôi trơn bằng dầu nhờn có hai nhóm quá trình xảy ra :

 

-Nhóm thứ nhất là dầu bị biến chất có thể bị o xi hóa , bị cháy , bị craking v.v...theo các mức độ khác nhau

 

-Nhóm quá trình thứ hai là dầu bị nhiễm bẳn do ăn mòn, mài mòn , do chất bản từ bên ngoài đưa vào,

 

Sản phẩm của hai nhóm quá trình này là những cặn bẩn vô cơ và cặn bẩn hữu cơ,

 

Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn và phân biệt sự diễn biến tạo cặn bẩn hai quá trình này người ta tiến hành xác định cặn pen tan và cặn tôluen

 

 

 

Cặn pen tan

 

Pentan là một hydro cacbon mạch thẳng khi đưa vào mẫu dầu nó sẽ có tác dụng làm kết tủa các chất bẩn ra khỏi dầu . Chất bẩn tìm ra được như vậy gọi là cặn pentan.

 

Cặn pen tan trước hết cho ta đánh giá về sự nhiễm bẩn và biến chất của dầu;

 

Làm thế nào để phân biệt được phần cặn bẩn do dầu bị biến chất sinh ra với chất cặn bẩn nói chung, Bí quyết là ở chỗ các căn bẩn do biến đổi chất là những căn hữu cơ, tan được trong toluen. Vì thế khi cho toluen tiếp xúc với cặn pentan ta làm hóa tan và trích li di phần hữu cơ của nó , phần còn lại đó là phần cặn bẳn vô cơ mà ta gọi với trường hợp này là cặn toluen ;

 

Chất không tan trong toluen - các tạp chất vô cơ bao gồm các tạp chất nhiễm bẩn bên ngoài , là cacbon của nhiên liệu ,của dầu nhờn,của phụ gia khi bị cháy sinh ra ,là các chất bẩn tạo ra do ăn nòn ( gỉ) và mài mòn ( các mạt kim loai)

 

 

 

Trong dầu động cơ , người ta thường sử dụng các chất phu gia phân tán làm cho cặn bẩn đã sinh ra, tuy không tan nhưng không thể tách ra đươc mà lơ lửng trong dầu làm cho thí nghiệm không tiến hành được .

 

Trong trường hợp này người ta phải sử dụng chất đông tụ thì mới tách được chất bẩn ra Dùng chất động tụ kết hợp với pen tan để xác định cặn bẩn được gọi là cặn pen tan -dông tụ ,

 

Sau khi thu được cặn pen tan -đông tụ thì người ta cúng dùng toluen để phân biệt phần hữu cơ với phần cặn vô cơ như dã làm ở trên..

 

 

 

10). Xác định khả năng oxi hóa

 

Khi bị o xi hóa các hợp chất có tính a xít và các chất nhựa hình thành

 

Có thể kiểm tra TAN.và hàm lượng nhựa để đánh giá tính chất bị o xi hóa của dầu,

 

Để xúc tiến quá trình oxi hóa ngưới ta liện tục đưa dòng oxi vào bình phản ứng, nâng nhiệt độ thí nghiệm và sử dụng xúc tác là đồng .Sau những thời gian nhất định người ta kiểm tra trị số a xít và hàm lượng nhựa hình thành để đánh giá mức độ oxi hóa.

 

Tính chất oxi hóa đặc biệt quan trọng đối với các dầu như dầu biến thế , dầu tuyếc bin ,

 

11 ) -Tính tạo bọt :

 

Tính tạo bọt là khả năng dầu tạo thành bọt khi khuấy trộn mạnh nó với không khí , Dầu tạo bọt tất nhiên khả năng bôi trơn của nó bị giảm xuông

 

Người ta sử dụng phụ gia để chống tạo bọt , phụ gia này không dễ dàng tan trong dầu ,có khuynh hướng tách dần ra khi dầu được để yên. Trong quá trình làm việc ,dầu nhờn bị khuấy trộn ;các phụ gia chống tạo bọt bị tách ra lại được phân tán trở lại và phát huy hiệu quả tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của bọt dầu, làm cho bọt vỡ ra mau chóng

 

Ở những nhiệt độ khác nhau thì khả năng tạo bọt khác nhau ;dầu đã được khuấy trộn thì tính chống tạo bọt được cải thiện.

 

Để mô phỏng những điều đó người ta chia làm 3 thí nghiệm khác nhau:

 

               -Đo sự tạo bọt ở 24O C

 

               -Đo sự tạo bọt ở 93,5O C

 

              -Đo sự tạo bọt ở 24O C ngay đối với mẫu vừa đo sự tạo bọt ở 93,5O C được để nguội trở lại

 

Ở thí nghiệm thứ ba ,mẫu dã dượ khuấy trộn bằng cách thổi hơi ở nhiệt độ cao và thời gian , lưu lượng qui định

 

Các đâu bánh răng chạy ở tốc độ cao,dâu bôi trơn động cơ và dầu dùng cho máy bơm có lưu lượng lớn dễ tạo bọt nên cần khảo sát tính tạo bọt và dùng phụ gia chống bọt .

 

 

 

12)Thí nghiệm tạo nhũ :

 

Nhũ có thể sinh ra khi dầu gặp nước . Trường hợp này xảy ra đối với dầu tuabin và dầu xi lanh .

 

Người ta có nhiều cách thí nghiệm khác nhau để khảo sát sự tạo nhũ và phá nhũ của dầu : hoặc làm cho dầu bị nhũ với luồng hơi nước đun sôi hoặc làm cho dầu bị nhũ khi khuấy mạnh dầu với nước ,

 

Thí nghiệm về nhũ nhằm tìm ra nguyên liệu và phụ gia có tính chống tạo nhũ cao nhằm sản xuất ra dâu có thời gian sử dụng dài .

 

 

 

12) kim loại

 

Trong dầu thô chỉ có một lượng rất nhỏ kim loại , Không phải dễ dàng đưa được kim loại vào các sản phẩm dầu mỏ bởi vì dầu mỏ là các chất hữu cơ. Nói một cách cụ thể là không thể có sát, nhôm, kẽm , chì, man gan trong xăng dầu nếu dùng vật chứa xăng dầu làm từ các kim loại và hơp kim kể trên.   Không đơn giản trong xăng có chì ,có Man gan là do cho chì, mangan tiếp xúc với xăng ,Con đường để đưa kim loại vào sản phẩm dầu mỏ là tạo ra các hơp chất cơ- kim nghĩa là tạo ra các hợp chất hưu cơ có kim loại, Chỉ có các hợp chất cơ-kim là hòa tan được trong sản phẩm dầu mỏ mà thôi .Cho đến ngày nay khi thế giới từ bỏ xăng chì thì nước ta cũng chưa thể sản xuất ra một giọt xăng có chì vì chúng ta chưa có một phòng thí nghiệm nào tổng hợp được dù là 1 miligam Tetraetyl chì nghĩa là chúng ta lạc hậu so với họ hàng thế kỷ .

 

Trong dầu nhờn động cơ hiện nay có các kim loại như Ba,Ca, Fe,Zn ....là chuyện thường tình , Chúng có mặt là do chúng ta sử dụng phụ gia . mà các phụ gia đó là những hợp chất cơ - kim . Vậy khi kiểm tra hàm lượng cac kim loại này là ta đã kiểm tra các phụ gia trong dầu . Trong các xưởng để có thể pha chế dầu chính xác theo đơn cho sẵn ngưởi ta phải kiểm tra hàm lượng kim loại thông qua các phương pháp hóa học như chuẩn độ phức và các phương pháp vật lý như dùng quang phổ hấp thụ nguyên tử-AAS. Phương pháp AAS đã chỉ ra rất thích hợp với kiểm tra khi sản xuất và khi quản lý sản phẩm lưu hành vì nó rất nhanh và nhậy lại có độ chính xác chấp nhận được. Những dầu rởm không có phụ gia bị phát hiện nhanh chóng khi kiểm tra AAS .

 

 

 

13) Nhiêt độ đông đặc ; Ở điều kiện lạnh , kiểm tra điểm đông đặc của dầu là cần thiết . Dầu nhờn không thể bôi trơn được nếu nó bị đông đặc , Trong điều kiện nước ta trừ dầu dùng cho máy lạnh và dầu hàng không thì việc đo nhiệt độ đông đặc của dầu nói chung là không cần lắm .

 

 

 

14) Điện áp đánh thủng hoặc tang của góc tổn thất điện môi

 

Chỉ tiêu này ở trong phần cuối bài viết không phải vì nó kém quan trọng mà vì nó đòi hỏi cho số ít dầu đặc biệt đó là dầu biến thế , Tinh cách điện của dầu thể hiện qua chỉ tiêu vật lý : điện áp đánh thủng hoặc tang của góc tổn thất điện môi là rất quan trọng đối với dầu biến thế, Để cải thiện chỉ tiêu kể trên . người ta cũng dùng phụ gia : chất PCB , Trong một thời gian rất dài cỡ vài chụ năm, PCB tưởng chừng vô hại . Hiện nay nó được xem như một tác nhân gây ô nhiễm môi trường rất đáng quan ngại . Cho nên thế giới ngày nay thật là phức tạp , Chỉ có những điều ta chưa biết và chưa hiểu rõ mà thôi !

 

 

 

Trình bày các tính chất lý hóa của sản phẩm dầu mỏ để nói rằng mỗi một chỉ tiêu đêu có ý nghĩa thực dụng của nó trong sản xuất, sử dụng ,bảo quản, trong trao đổi hàng hóa, Từng chỉ tiêu quan trọng đối với dầu này lại có thể bỏ qua đối với dầu khác.

 

Điều rõ ràng là chúng ta cần hiểu đúng giá trị của chúng trong thực tế như thế nào mà thôi.

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                               tiêp

 

 
Lựa chọn mỡ nhờn In Email

Để lựa chọn mỡ cho thích hợp với công  việc của bạn chúng tôi xin gợi ý những điểm sau

1.Mục đích sử dụng :

Dùng mỡ để bôi trơng hoặc dùng để chống gỉ . Nếu mục đích chính của việc dùng mơ của bạn là để chống gỉ thì bạn nên sử dụng mỡ bảo quản mặc dù nhìn chung mỡ bôi trơn nào cũng có tính chống gỉ Tuy nhiên việc dùng mỡ chuyên dùng cho bảo quản có nhiều mặt thuận tiện , ưu việt của nó . Ví dụ như mỡ bảo quản có nhiệt độ nhỏ giọt thấp do đó khi tiến hành bảo quản với những lượng lớn với những vật có kích thước lớn nhỏ khác nhau rất là thuận tiện : người ta có thể dễ dàng đun nóng chẩy chúng rồi tiến hành bôi , quét hoặc nhúng vật bảo quản vào hoặc khi cần phá bỏ lớp mỡ bảo quản đi chúng ta có thể tiến hành rất dễ dàng chỉ cần làm nóng dưới 100OC

 

2.Điều kiện làm việc :

Dùng bôi trơn cho bánh răng hay ổ bi hay các cặp ma sát khác , với tốc độ như thế nào Như với ô tô chỉ cần nói đến việc bôi trơn các bộ phận có ổ bi như moayơ bánh xe là ta nghĩ ngay đến mỡ chịu nhiệt còn với các bộ phận khác thì không cần mỡ phải chịu nhiệt

mà ưu tiên đến tính chịu nước. Còn nhíp xe là bộ phận chịu tải và tiếp xúc với môi trường  thì chịu tải và chịu nước là điều cần lưu ý.

 

3.Môi trường làm việc:

Môi trường làm việc của mỡ có ý nghĩa rất quan trọng . Một loại mỡ có thể rất tốt trong môi trường này nhưng lại không thích hợp trong môi trường khác. Khi làm việc ở môi trường có nước thì cần dùng mỡ chịu nước , Các mỡ chịu nước tốt là mỡ Can xi, mỡ Liti . Mỡ xà phòng Natri là loại mỡ không chịu được nước . Ta có thể nhận  ra chúng tan dễ dàng khi thoa chúng trên đầu ngón tay với 1 chút  nước .Có những môi trường mà mỡ phải chịu đựng rất khắc nghiệt như môi trường xăng dầu , cũng có những môi trường  cực kỳ khắc nghiệt như a xit HNO3 .

 

4.Nhiệt độ .

Nhiệt độ làm việc của mỡ là một chỉ tiêu quan trọng , Người ta đánh giá khả năng chịu nhiệt của mỡ thông qua điểm nhỏ giọt của mỡ . Điểm nhỏ giọt của mỡ là nhiệt độ mà ở đó có giọt dầu đầu tiện tách ra khỏi mỡ,thoát ra ở dưới đáy một chiếc cốc nhỏ xíu đựng mỡ của dụng cụ thí nghiệm . Hiểu một cách đơn giản là nhiệt độ tại đó mà bắt đầu có sự tách dầu khỏi mỡ..Thông thường chấp nhận nhiệt độ làm việc được của mỡ là khoảng dưới nhiệt độ nhỏ giọt cỡ 6 oC , Nhiệt độ nhỏ giọt của mỡ phụ thuộc vào bản chất của chất làm dặc dầu nhờn để tạo thành mỡ. Các chất làm đặc như phẩm mầu hữu cơ ( một phức chất hữu cơ có đồng ) , hoặc là chất vô cơ kiểu như đất sét có khả năng chịu nhiệt rất cao . Trong các chất làm đặc là xà phòng thì xà phòng Liti có tính  chịu nhiệt cao trên 170-180 OC , xà phòng Na trên  130OC còn xà phòng Can xi chỉ chịu  cỡ 80-90 OC mà thôi  . Ngày nay người ta nghiên cưu ra các mỡ phức kiểu mỡ phức Can xi tạo ra những loại mỡ vừa chịu được nước lại chịu nhiệt độ cao đến cỡ 200oC Nói đến nhiệt độ của mỡ phải trải qua  khi bôi trơn có thể là do nhiệt ma sát  nhưng cũng có thể là nhiệt độ của môi trường ví dụ nhiệt độ của các lò nung xi măng..

 

5.Áp lực tải trọng trên bề mặt ma sát

Tải trọng lên bề mặt ma sát cũng là một yếu tố cần phải lưu ý khi dùng mỡ môi trơn. Nhiều bánh răng do kiểu bánh răng ( loại trục vít. , hoặc Hipoit ,...) do điều kiện chịu tải cụ thể mà bề mặt bánh răng chịu áp lực rất lớn dẫn đến bánh răng bị cháy, bị chảy ra , kẹt dính lại đòi hỏi phải dùng những dầu mỡ đặc biệt có những phụ gia chịu cực áp ký hiệu là dầu mỡ chịu cực áp - tiếng Anh là Extra Pressure (viết  tắt EP ) , chúng ta được biết tên 1 trong các phụ gia được dùng đó là Cloref-40 , Để tăng tính chịu áp cho mỡ người ta còn sử dụng chất độn cho mỡ như sử dụng bột Graphit , bột Môlipden disunphua chúng ta có các mỡ gọi tên là mỡ graphit hay phán chì, mỡ Molipden .Trong quá trình bôi trơn , các hạt phấn chì , Molipđen đisunphua  -MoS2  đóng vai trò những viên bi cực nhỏ lăn giữa hai bề mặt tiệp xúc tăng cường khả năng chịu tải .

 

6.Độ cứng mềm của mỡ :

Khi sử dụng mỡ ,người ta cần lưu ý đến tính chịu nhiệt .chịu áp , chịu môi trường tiếp xúc người ta còn cần quan tâm cả đến độ cứng mềm của mỡ .

Người sử dụng có nhu cầu sử dụng loại mỡ sao cho có độ cứng mềm theo nhu cầu của mình mong muốn . Nhu cầu này là quan trọng đến mức người ta đưa nó thành một chỉ tiêu để phân loại mỡ .Giống như việc đánh giá độ cứng mềm của các vật liệu khác như kim loại , bê tông ,mặt đường xá người ta đo độ cứng mềm theo kết quả gây nên bởi  1 lực lên bề mặt đó . Đối với mỡ ở 25OClà sự lún sâu xuống của một chóp nón hình trụ có lích thước xác dịnh với 1 khối lượng là 37g , đặt trên măt mỡ trong thời gian là 5 giây . Độ lún có đơn vị đo là độ dài tương đương  với 1/10 milimet ,Khi ta nói độ lún là 175 nghĩa là sau thí nghiệm chóp nón lún xuống 175 x 1/10 mm =17,5 mm = 1,75 cm .

Trong thí nghiệm đo độ cứng của sáp hoặc nhựa đường việc dùng chóp nón như thế này là không được cho nên người ta phải dùng 1 chiếc kim để làm thí nghiệm nên có khái niệm gọi là độ xuyên kim . Trong giai đoạn kỹ thuật lạc hậu , một số tài liệu xuất phát từ các bài giảng có nguồn gốc Trung quóc , từ”độ xuyên kim” được lưu lại tới ngày nay thiết nghĩ cũng nên bỏ bởi từ ngữ của ta cũng thừa đủ để diễn đạt mà còn chính xác hơn.

Lưu ý từ nguyên bản tiếng Anh Penetrration = lún ,xuyên sâu là tiếng xuất phát từ Au-Mỹ là nơi phương pháp đo này được xây dựng .

Nếu hiểu đơn giản là chóp nón lún càng sâu nhiều trong mỡ thì độ lún càng cao thì mỡ càng mềm . Để thuận tiện Viện  Nghiên cứu về mỡ của Mỹ NLGI đưa ra các khái niệm về độ cứng mềm của mỡ thành 9 nhóm khác nhau  từ 000 ( ba số 0), 00 ( hai số 0) , 0( mỡ 1 số 0) rồi các mỡ số 1,2,3,4,5,6 . theo một trật tự mỡ từ cực mềm trông giống nhu một chất  sền sệt như dầu đến rất cứng dạng các cục sáp  Độ cứng này  được xác định nhờ thí nghiệm đo độ lún mỡ . Mọi người có thể biết được mỡ của mình sử dụng thuộc nhóm nào sau khi đo độ lún của mỡ và căn cứ vào bảng sau của NLGI

 

Phân loại mỡ

theo độ cứng ( độ lún) của  mỡ

                                                     do NLGI xây dựng

 

Tên gọi

Độ lún mỡ , 0.1 mm

000

(ba số 0 )

445-475

00

(hai số 0 )

400-430

0

(một số 0 )

355-385

1

310-340

2

265-295

3

220-250

4

175-205

5

130-160

6

85-115

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Việc phân loại này rất thuận tiện và được các hãng lớn công nhận . Do đó các số 1, 2, 3 trong ký hiệu của mỡ đều có ý nghĩa của nó - chỉ về độ cứng của mỡ. Tuy nhiên còn tồn tại những

loại mỡ được ký hiệu theo khối Sôviết trước dây như YC1.YC2, YC3,YT1, YT2 ,

người dùng hãy thận trọng khi nói các số 1,2,3 này vì  nó không có ý nghĩa như phân loại của NLGI .

Ngày nay có lẽ vì Liti là một sản phẩm phụ kèm theo của công nghệ hạt nhân nên việc sản xuất và lưu hành mỡ Liti là khá phổ biến  nhưng người ta vẫn sản xuất các loại mỡ kinh điển như mỡ Na, mỡ Ca ,....Ở Việt nam chúng ta còn sản xuất ra loại mỡ với giá thành rất cạnh tranh với các mỡ nhập ngoại kiểu mỡ Canxi mà phía nam đã  làm ra .Công ty TNHH Huy phat cũng có thực lực mạnh trong việc sản xuất các mỡ để phục vụ nhu cầu khách như mỡ bảo quản , mỡ 1-13, mỡ chịu áp Graphit, mỡ Moly ,  Chúng ta nên nhìn nhận và tự hào về những sự kiện đó.

 
Chọn dầu động cơ In Email

                                                CHỌN DẦU ĐỘNG CƠ

Bài này giới thiệu những nét chung trong việc lựa chọn dầu động cơ .

Chúng tôi không nêu ra thành nguyên tắc hoặc qui tắc song những điều nói  ra ở đây thiết nghĩ bạn đọc có thể tham khảo để cân nhắc trong các công việc cụ thể của mình .

Khi chọn dầu động cơ  phải xác định loại động cơ gì ;

Phổ thông trong đời sống quanh ta là động cơ  xe máy, ô tô , nhưng hiểu rộng ra chúng ta còn có rất nhiều dạng động cơ  khác nhau :động cơ máy hơi nước, động cơ xăng, động cơ diêzen,  động cơ tuyêc bin phản lực, động cơ tuyêc bịn cánh quạt ,động cơ tuyêcbin khí,động cơ tuyêc bin nước,động cơ tuyêc bin hơi nước,động cơ tuyêc bin hơi , động cơ máy thuỷ,  động cơ trạm máy cố định ,động cơ mới, động cơ cũ, động cơ thiết kế thuộc các thế hệ trước đại chiến thế giới II, những năm 60,70,80, 90 ,những năm 2000 v.v... Liệt kê một số kiểu động cơ như trên để nói ra rằng lĩnh vực này rất phức tạp, phong phú, không thể đồng nhất mọi đối tượng mà cần xác định rõ , thật cụ thể

Thí dụ cũng là động cơ đốt trong nhưng các máy dùng cho hàng hải lại được phép sử dụng nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh cao ,do đó lại phải dùng những dầu có phụ gia kiềm cao tói mức trị số kiềm tổng -TBN có thể lên tới hàng chục trong khi chỉ số TBN của các dầu động cơ mặt đất thường là dưới 10 . Những dầu ngành hàng không lại phải có khả năng làm việc ở nhiệt độ âm ( cỡ - 40OC, -50 OC ) đòi hỏi dùng dầu có nhiệt độ đông dặc rất thấp , những máy có dính dáng đến hơi nước lại phải dùng các loại dầu có khả năng khử nhũ cao .....

Để thu lại phạm vi của bài này chúng tôi chỉ nêu những điều có liên quan tới động cơ ô tô để làm ví dụ

Việc sử dụng dầu mỡ bôi trơn trước hết phải tuân theo chỉ dẫn của nhà sản xuất động cơ xe máy .Người sử dụng phải căn cứ vào catalog của nhà chế tạo xe máy . Là người thiết kế chế tạo  họ hiểu rõ sản phẩm của họ hơn bất kỳ ai và họ phải có trách nhiệm về mặt pháp lý với người tiêu dùng sản phẩm của họ mà một trong những thông tin mà nhà sản xuất cần cho người tiêu dùng biết là việc sử dụng dầu mỡ trong việc bôi trơn xe máy.

Người sản xuất xe máy phải chỉ ra độ nhớt và chất lượng của dầu động cơ cho xe máy mình làm ra ..

Trong việc lựa chọn dầu cần phải chọn độ nhớt thích hợp . Có dùng dầu tốt đến đâu mà chọn dầu sai về độ nhớt là điều không chấp nhận được

Độ nhớt thế nào là thích hợp cho xe máy . Thích hợp là không quá cao cũng không quá thấp ,

Độ nhớp thấp không đủ bôi trơn cho xe máy dẫn đến hiện tượng máy móc bị mài mòn , bôi trơn không đảm bảo có thể dẫn đến lột biện ,

Độ nhớt quá cao thì xe máy phải tốn một phần công suất  để khắc phục ma sát và trong một số trường hợp nếu độ nhớt cao quá thì việc truyền dẫn dầu để bôi trơn bị khó khăn , thậm chí ở những giai doạn khởi đông máy khôn g tạo được nêm dầu , xảy ra ma sát khô gây nên mài mòn .

Nhà sản xuất chỉ có thể chỉ ra độ nhớt cần có trong điều kiển hoạt động bình thường, thường xuyên của xe máy còn những trường hợp như xe đang thời kỳ chạy rà trơn , xe vừa trải qua đại tu hay xe dùng quá lâu thì người sử dụng phải có cách vận dụng thích hợp .Chẳng hạn xe mới phải trải qua giai đoạn chạy rà trơn lúc này khe hở xilanh pit tông là và giữa các bề mặt ma sát là rất nhỏ nên cần thiết dùng dầu có độ nhớt thấp hơn qui định một chút sao cho trong quá trình chạy ra trơn các mạt kim loại bị mài mòn dễ được phân tán vào dầu bôi trơn để rồi sẽ bị loại ra ở các bầu lọc,

Sau giai đoạn chạy rà ,người sử dụng phải dùng dầu theo đúng qui định của hãng sản xuất xe máy.

Trong trường hợp xe , máy đã dùng quá lâu các chi thiết ma sát đặc biệt là cặp pit tông- xy lanh đã bị mài mòn nhiều thì để bôi tron tốt , để tăng độ kín người ta lại phải dùng dầu có độ nhớt cao hơn qui định một chút . Dùng từ “một chút “ có nghĩa phiếm định, nghĩa là người chủ xe máy phải căn cứ vào điều kiện cụ thể mà gia tăng độ nhớt cho thích hợp  bằng cách trộn dầu có độ nhớt thấp và dầu có độ nhớt cao theo một tỷ lệ nào đó.

Độ nhớt thích hợp còn có ý nghĩa  là nó phải được chọn thích hợp với nhiệt độ  của môi trường . Khi xe máy làm việc dầu nóng lên đến một độ nào đó do nhiệt ma sát của máy và do nhiệt cháy nóng của nhiên liệu ; Người ta dùng dầu với tư cách là chất bôi trơn vừa là chất tải nhiệt đưa nhiệt ra bộ làm mát bằng khí , bằng nước và bằng quạt gió tất cả những diểm đó dẫn đến dầu đạt tới một nhiệt độ cân bằng tương đối nào nó  tùy theo điều kiện cụ thể kể cả nhiệt độ môi trường . Nhiệt độ này được phản ảnh ở đồng hồ nhiệt độ Giá trị này cho ta một chỉ dẫn tương đối về điều kiện nhiệt khi dầu làm việc trong động cơ tuy vậy nó không phải như nhau ở mọi thời điểm , mọi vị trí . Để tiện cho việc chỉ dẫn sử dụng dầu người ta lấy gốc nhiệt độ ở 100OC và đưa ra chỉ tiêu về độ nhớt cửa dầu động cơ ở nhiệt độ đó. Vậy độ nhớt ở 100OC phần nào phản ánh được độ nhớt của dầu trong điều kiện chạy máy,

Khi xe máy không làm việc nhiệt độ của dầu động cơ đi đén cân bằng với nhiệt độ môi trường . Điều này cũng có thể hiểu một cách giản đơn là lúc khởi động xe máy

dầu bôi trơn có độ nhớt cao hơn khi xe máy đang làm việc .Nhiệt độ môi trường bên ngoài tùy từng khu vực , từng mùa rất là khác nhau để có mốc nhiệt độ để so sánh người ta thừa nhận  lấy độ nhớt của dầu ở 40OC ( tức là 100OF) . Độ nhớt  của dầu ở 40OC và ở 100OC có thể khác nhau 8-10 lần có nghĩa là chỉ riêng về độ nhớt thoooi cũng có thể thấy điều kiện bôi trơn của dầu động cơ là rất khác nhau .Vì vậy :

Người ta lấy độ nhớt của dầu ở 100 OC làm cơ sở để lựa chọn dầu động cơ và lưu ý người sử dụng phải xét đến mặt nhiệt độ của môi trường . Trong khi đó với những dầu khác như dầu công nghiệp công nghiệp, dầu thủy lực thì chỉ cần  lấy  gốc độ nhớt ở 40OC vì sự thay đổi nhiệt độ của dầu khi làm việc không khác nhiều lắm với nhiệt độ môi trường ngoài.

Trong quá trình bôi trơn xe ,máy nhiệt độ dầu có hai khuynh hướng là nóng lên do ma sát

và do tiếp xúc với nhiệt của động cơ (nhiên liệu cháy sinh ra) và khuynh hướng nguội đi do  môi trường bên ngoài mà người ta tìm cách làm mát bằng nước, bằng không khí .

Biên độ và tần số của sự dao động nhiệt độ dó tùy vào điều kiện hoạt động của máy móc, diều kiện thiết kế chế tạo mà diễn biến phức tạp. Một giá trị độ nhớt có thể thích hợp với bôi trơn ở nhiệt độ này nhưng lại không thích hợp cho việc bôi trơn ở nhiệt độ khác .

Nếu sự chênh lệch về độ nhớt theo nhiệt độ là quá nhiều thì việc bôi trơn sẽ không tốt

Để có thể đánh giá  tính thay đổi của độ nhớt của dầu theo nhiêt độ người ta đưa ra khái niệm về chỉ số độ nhớt . Một thứ dầu có chỉ số độ nhớt càng cao thì độ nhớt thay đổi ít khi nhiệt độ thay đổi .Để có thể đo và tính được chỉ số độ nhớt của dầu người ta đo độ nhớt của dầu ở 100 OC và ở 40OC rồi qua một số phép tính và tra bảng người ta tìm ra được chỉ số độ nhớt . Việc tính toán qua máy tính  chỉ mất vài giây song nếu làm thủ công thì phải mất ít nhất 30 phút . Để có một sự đánh giá tương đối về sự thay đổi của độ nhớt của dầu theo nhiệt độ chúng ta có thể lấy tỉ số độ nhớt của dầu ở 40OC so với độ nhớt của dầu đó ở 100OC .Các dầu có nguồn gốc dầu thực vật dầu tổng hợp thường có chỉ số độ nhớt cao . Để cải thiện tính nhiệt -nhớt của dầu hay nói cách khác là để nâng cao chỉ số nhớt của dầu người ta sử dụng phụ gia .

Như vậy riêng về mặt bôi trơn đối với dầu động cơ người ta cần xét hay chỉ tiêu là độ nhớt ở 100OC và chỉ số độ nhớt với khuyến cáo là chỉ số độ nhớt càng cao ,càng gần với 100 thì dầu bôi trơn càng tốt,

Để bôi trơn được dầu phải đáp ứng được về độ nhớt song để dầu làm việc được tốt m được lâu ( dầu có tuổi thọ cao) thì dầu phải  thỏa mãn các yêu cầu về chức năng của mình nghĩa là  dầu phải có chất lượng cao,

 

Một dầu động cơ kém chất lượng có thể phát sinh các vấn đề như sau :

1.Độ nhớt bị thay đổi (có thể tăng hoặc giảm) trong quá trính sử dụng mà chủ yếu hay xảy ra  là hiện tượng dầu bị giảm độ nhớt do bị giảm độ nhớt do  phần nặng không đốt cháy hết của nhiên liệu  trộn lẫn vào dầu, do quá trình cracking dầu xảy ra ở những chỗ nhiệt độ cao ( thành xi lanh. pit tông, mặt pít tông ) và sự có mặt của xúc tác mà trong một vài trường hợp lại chính là phụ gia  .

2 Trong quá trình làm việc ở động cơ đốt trong , dầu nhờn còn có mặt cả ở bên trong buồng đốt , tiếp xúc với khí cháy và bị cháy phần nào nên sinh ra tro,cặn than , các chất này theo dầu đi tới các mặt ma sát  gây tác dụng mài mòn đối với các bề mặt ma sát

3.Trong quá trình làm viêc bị  đốt nóng lại tiệp xúc với oxy nên dầu bị o xi hóa tạo ra các chất có tính a xit  hoặc dầu bị thâm nhập bởi các khí có tính a xít do nhiên liệu cháy mà có ( như khí SO2 , SO3) . Độ a xit của dầu tăng lên , độ kiềm của dầu giảm đi làm tăng khả năng ăn mòn đối với các  chi tiết kim loại mà nó tiếp xúc,

3.Bản thân sự biến chất của dầu cộng với các cặn bẩn làm cho dầu bị vón cục gây nên sự tắc nghẽn các đường dẫn dầu, phá hoại sự bôi trợn

Tất cả các yếu tố có hại đó đều có thể được khắc phục bằng các chất phụ gia  như phụ gia tảy rửa làm cho các chất bẩn được rửa khỏi bề mặt ma sát như thành pít tông xy lanh, mặt quả nén , phụ gia phân tán làm cho các chất bẩn không bị vón thành cục

Nhờ có các phụ gia ta có các dầu  động cơ  có chất lượng khác nhau .

Trong sự tiến bộ về khoa học công nghệ chế tạo động cơ thì độ khắc nghiệt về điều kiện làm việc của dầu động cơ là theo khuynh hướng tăng lên ( tăng lên về công suất , tải trọng, vòng quay,...) cho nên nhu cầu đòi hỏi dầu có chất lượng cao càng nhiều hơn, lớn hơn . Điều này chỉ ra nhu cầu và động lực để hình thành các dầu mới chất lượng cao, điều náy cũng chỉ ra là nếu chỉ dùng các dầu chất lượng thấp là không thể được

Khác với các nước lạc hậu như Việt nam, ở các nước tiên tiến , vấn đề tiết kiệm thời gian đi liền với hiệu quả kinh tế vì thế người ta cần có những loại dầu chất lượng cao để kéo dài thời hạn thay dầu , giảm bớt thời giờ đưa xe máy vào nằm xưởng . Điều này cũng nói một điều ngược lại là nếu dùng dầu chất lượng thấp thì dầu dẽ biến chất , thời hạn thay dầu sẽ phải ngắn đi nêu như không muốn có sự trả giá là máy bị hỏng . Trong quá khứ chúng ta có thể thấy một số ví dụ về việc chọn dầu động cơ trong sự điều chỉnh về mối quan hệ “độ nhót - chất lượng “ như trường hợp người ta có thẻ dùng dầu MC-20 , MK-22 là những dầu có độ nhớt cao nhưng không có phụ gia để bôi trơn động cơ thay cho dầu động cơ xe tăng MT-16p là dầu có phụ gia đặc biệt . Phải chăng đây cũng là kiểu “lấy cần cù bù thông minh” Chúng tôi chỉ muốn nói rằng cần dùng dầu động cơ có độ nhớt thích hợp,dầu có chất lượng cao , không để động cơ chạy thiếu dầu . Nếu buộc phải dùng dầu chất lượng thấp thì chỉ là tạm thời , phải rút ngắn thời hạn thay dầu , phải theo dõi dầu chặt chẽ , tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra

 
Kiểm tra chất lượng dầu mỡ In Email

                       CÔNG TAC KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG DẦU MỠ

Tầm quan trọng

Như chúng ta đã  biết dầu mỡ có rất nhiều loại , mỗi loại sản phẩm lại có các mức chất lượng rất khác nhau .Sử dụng sai , sử dụng dầu mỡ chất lượng thấp đều gây ra những  hậu quả đáng tiếc kết quả là máy móc làm việc trục trặc, bị xuống cấp nhanh chóng , tuổi thọ thiết bị bị rút ngắn .

Với mắt thường chúng ta không dễ phân biệt được các loại dầu mỡ càng không thể đánh giá chất lượng chúng . Để kiểm tra chất lượng dầu mỡ cần có các thiết bị , cần có những nhân viên hoá nghiệm có tay nghề và càn có những người hiểu và bình luận được những kết quả kiểm nghiệm.

Công tác kiểm tra chất lượng dầu mỡ được thực hiện từ quá trình sản xuất , tồn trữ , trao đổi và sử dụng dầu mỡ .

Kiểm tra chất lượng trong sản xuất

Ngành công nghiệp sản xuất dầu mỡ hiện nay rất phát triển với qui mô có tính toàn cầu nó không chỉ hạn hẹp ở một hoặc vài công ty, một vài nước hoặc một khu vực  nào đó . Bên cạnh những công ty khổng lồ , xuyên quốc gia kiểu Shell , BP, Caltex, Total ,v.v..... lại có hàng trăm, hàng nghìn công ty dầu mỡ khác . Đến như một quốc gia tầm tầm như Việt nam khi chưa làm ra nổi một giọt dầu thành phẩm trừ dầu thô ra cũng có không biết bao  nhiêu công ty dầu mỡ , những công ty này cũng có những sản phẩm riêng của họ . Giống như ngành công nghiệp dược phâm , nhiều sản phẩm dầu mỡ được sinh ra chủ yếu với các nguyên liệu nhập ngoại về n đem pha trộn . Dù sao cũmg phải nhận thấy đó là cách làm hợp lý , cần và nên có . Công tác kiểm tra chất lượng trong sản xuất dầu mỡ phải được thực hiện từ ngay việc kiểm tra chất lượng của nguyên liệu đầu vào để lập nên một đơn pha chế cụ thẻ cho từng mẻ sản phẩm , tiếp đến là khâu kiểm tra trong quá trình pha trộn nguyên liệu sao cho có những điều chỉnh kịp thời và tạo ra thành phẩm với chất lượng mong muốn và với chi phí về năng lượng hợp lý.Trong sản xuất thì hầu như các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng sản phẩm đều được lưu ý và kiểm tra nhưng không phải là mọi chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm đều được tiến hành . Lý do là có những thiết bị rất hiếm , đắt tiền như các dàn thử tính năng dầu động cơ góp vào việc phân loại  A, B,C, v,v.... . Trong trường hợp này nhà sản xuất phải theo chỉ dẫn của phía nhà cung cấp phụ gia và phải khống chế liều lượng pha chế qua các chỉ tiêu gián tiếp như hàm lượng kim loại . chỉ số kiểm , độ tro hoặc tro sulphat ,... Nhà sản xuất phải có lương tâm và trách nhiệm xã hội khi đưa các sản phẩm của họ ra thị trường . Sản xuất theo kiểu lừa bịp , chụp dựt , chắc là không thể tồn tại trong xã hội dân chủ có cạnh tranh lành mạnh.

 

 

Kiểm tra chất lượng trong việc buôn bán , giao nhận hàng .

Trong quan hệ thương mại hiện nay chữ “Tín “ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng . song sự bình đẳng giữa người mua và người bán chỉ có thể được trên cơ sở sự hiểu biết về đánh giá chất lượng sản phẩm và khả năng có và sử dụng được các công cụ kiểm tra chất lượng .

Lợi nhuận là mục tiêu của người bán vì vậy họ có thể dựa vào sự thiếu chặt chẽ trong hợp đồng mà họ có thể khai thác khiến người mua biết rằng bị thua thiệt mà cũng khó khiếu kiện nổi .

Ví dụ khi mua bán xăng ta chỉ lưu ý đến trị số Octan mà xem nhẹ tính bay hơi vì cho rằng nước ta ở nơi có khí hậu nhiệt đới có thể cho qua , Kết quả là xe máy không khởi động nổi vì trong sản phẩm có quá nhiều thành phần nặng . Hoặc như khi nhập dầu biến thế chỉ chú trọng đến tính năng cách điện của dầu mà không lưu ý đến loại phụ gia có Clo mà một số nước vẫn còn sử dụng dẫn đến việc nhập vào sản phẩm có tác hại ô nhiễm môi trường .

Hoặc khi  nhập mỡ bảo quản không ghi rõ mỡ hydrucacbon thì phía bán hàng có thể đưa ra một sản phẩm mà muốn làm công tác bảo quản hoặc phá niêm cất phải tiến hành ở nhiệt độ cao vừa tốn kém lại khó khăn phức tạp .

Trong quan hệ thương mại hiện nay , người ta được phép sử dụng các kết quả kiểm tra chất lượng của phía đối tác cung cấp , thừa nhận các kết quả kiểm nghiệm của nhau nhưng không phải là việc chấp nhận và thừa nhận một cách tuỳ tiện , mù quáng . Phải có các nhà sản xuất có hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến kiểu như ISO 9000 , có các phòng thí nghiệm đạt chuẩn quốc tế theo ISO 17025 , và các nước của này cùng nằm trong các tổ chức kinh tế thương mại quốc tế và khu vực .

Trên thị trường hiện nay , không loại trừ việc có hàng giả hàng kém chất lượng vì vậy việc kiểm tra chất lượng đối với sản phẩm dầu mỡ trong các hàng hoá lưu thông là cần thiết. Để kiểm tra phát hiện ra dầu mỡ giả hiệu,kém chất lượng không phải là việc quá khó , không thể làm được

nhưng không phải là việc mà ai cũng làm được .

Kiểm tra chất lượng trong quá trình bảo quản dầu mỡ

Tòn trữ dầu mỡ trong kho là một hoạt động thường xuyên , bình thường nhằm duy trì sự hoạt động cung cấp dầu mỡ một cách ổn định .Phải thấy rằng dầu mỡ khi tồn trữ thì sẽ bị tác động của nhiệt độ , độ ẩm ,oxi của không khí của môi trường .

Trong các điều liện như vậy thì không phải mọi chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm đều bị biến đổi và biến đổi theo chiều xấu đi.Chúng ta cần biết những chỉ tiêu nào dễ bị biến động và những giới hạn cho phép trong biến động chất lượng để theo dõi chất lượng sản phẩm một cách hiệu quả phù hợp với thực tế. Ví như chỉ tiêu chất lượng về tỉ trọng gần như không thay đổi và số liệu đo được cũng chỉ dùng cho việc tính chuyển đổi giữa khối lượng và thể tích sản phẩm . Trong quá trình tồn trữ , oxi của không khí tác động với sản phảm diễn ra quá trình oxi hoá mà kết quả của nó là tạo ra những chất có tính axit làm cho trị số axit tăng lên, trị số kiềm giảm xuống . Trị số  axit hoặc trị số kiềm tăng giảm phản ánh sự biến đổi chất lượng của sản phẩm có ảnh hưởng tới tính bảo vệ chống gỉ,chống ăn mòn của sản phẩm cũng phản ảnh sự biến đổi của phụ gia trong sản phẩm .

Một sự thay đổi nhỏ nhoi của tri số axit , hàm lượng nước vi lượng với dầu biến thế cũng liên quan  tới tính cách điện của nó vì thế trước khi tiến hành kiểm tra bằng thiết bị để đo tính điện môi của dầu như xác định điện áp đánh thủng người ta nên xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lượng đơn giản dễ làm , ít tốn kém trước như chỉ tiêu về trị số axit , hàm lượng nước.

Mỡ trong quá trình bảo quản có thể bị o xi hoá mà người ta có thể nhận thấy bằng mắt thường ở sự biến sắc lớp ngoài hoặc lớp trên cùng . Ở một vài dạng mỡ người ta còn thấy có dầu tách ra thể hiện nó có tính ổn định keo kém , Người ta còn nhận thấy dưới tác động của nhiệt độ , oxi ,hơi ẩm có loại mỡ còn xảy ra sự rữa nát.Trong diều kiện là sản phẩm đóng gói ở hộp và phuy người ta kiểm tra chất lượng theo xác xuất .

Trong công tác phân tích đánh giá chất lượng dầu mỡ người ta đưa ra công tác phân tích kiểm tra để trong một giai đoạn ngắn chừng 3 tháng người ta chỉ thực hành những kiểm tra một vài chỉ tiêu nhậy cảm liên quan đến biến chất mà thôi . Người ta chỉ thực hiện những phân tích toàn phần đánh giá toàn bộ chất lượng sản phẩm sau một thời gian tồn trữ lâu dài một vài năm. Nói là kiểm tra toàn phần thực ra cũng không có nghĩa là tất cả các chỉ tiêu về hoá lý của sản phẩm đều phải đánh giá hết. Điều đó là không thực tế và không cần thiết.

Trước đây , do nhu cầu dự trữ đề phòng chiến tranh xảy ra , công tác kiểm tra  chất lượng trong tồn chứa, bảo quản là rất quan trọng , ngày nay việc luân chuyển quay vòng hàng hoá là công việc có ý nghĩa sống còn đối với nhà sản xuất kinh doanh

Hàng hoá được lưu thông , luân chuyển  hầu như rất ít xảy ra hiện tượng dầu mỡ bị hư hỏng hàng loạt mà việc phát hiện , sử lý rất tốn kém.

Xu hướng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm là mặt tốt của kinh tế thị trường . Tuy vậy trong một điều kiện nào đó do sơ sót trong công tác bảo quản sản phẩm chúng ta có trong tay một sản phẩm xuống cấp về chất lượng, chúng ta phải có một phương án sử lý thích hợp sao cho vừa có tính kinh tế lại có tính kỹ thuật . Ví dụ : Không thể sử dụng dầu đã bị nhũ cho động cơ mà cần thiết phải tiến hành loại nước cho nó bằng cách đun nóng nó cỡ 110OC để cho nước bay hơi . Một loại dầu có trị số axit hơi cao so với tiêu chuẩn cần trộn với loại dầu mới có trị số axit thấp sao cho mẫu dầu trộn thoả mãn được yêu cầu về trị số axit .

KIểm tra chất lượng trong quá trình sử dụng dầu mỡ .

Diều này không phải là ai cũng làm tuy nhiên với những trường hợp sử dụng các máy móc có giá trị cao , khi  dùng một loại dầu mỡ mới , một sản phầm thay thế thì việc kiểm tra chất lượng này cũng rất kữu ích , nó đảm bảo cho máy móc không bị hỏng hóc do dầu, nó giúp ta thay mới dầu mỡ kịp thời.

Ngày nay trên thế giới đã hình thành một khoa học mà người ta chuẩn đoán tình trạng của máy móc thông qua dầu mỡ nhờ đó kịp thời phát hiện được các nguy cơ hỏng máy , khám được bệnh cho máy mà không cần tháo rỡ nó,

Công tác trọng tài trong kiểm tra chất lượng

Trong quan hệ mua bán nếu có sự bất đồng về đánh giá chất lượng sản phẩm

Người ta phải tiến hành công tác phân tích trọng tài , Không phải  phòng thí nghiệm nào cũng có thể làm phân tích trọng tài.

Để kết quả phân tích trọng tài có giá trị  thì việc lập một hội đồng lấy mẫu , lấy mẫu đúng kỹ thuật , thiết lập hồ sơ lấy mẫu, niêm phong , giao nhận , lưu mẫu và phân tích mẫu  đều phải theo một thủ tục nghiêm ngặt .

 

 
« Bắt đầuLùi1234Tiếp theoCuối »

Trang 2 trong tổng số 4