Viet NamEnglish (United Kingdom)

Tham khảo ý kiến

Bạn biết đến Huy Phát qua?
 

Thống kê

Thường thức dầu mỡ
TÍNH THỰC DỤNG CỦA CÁC CHỈ TIÊU LÝ HÓA =p! In Email

TÍNH THỰC DỤNG CỦA CÁC CHỈ TIÊU LY HOA

 

 Mỗi một chỉ tiêu lý hóa của sản phẩm đều có ý nghĩa thực tế của nó, Có ý kiến hỏi tại sao với một loại sản phẩm thì công ty này hoặc nước này đưa ra 4 ,5 chỉ tiêu trong khi công ty khác nước khác lại đưa ra đến 9.. 10 chỉ tiêu , Tại sao lại có sự chênh lệch như vậy . Điều này thưc ra chỉ là quan niệm mà thôi . Mỗi chỉ tiêu lý hóa đều có ý nghĩa riêng của nó nhưng công bố ra đến đâu , cái gì cho khách hàng lại do chính phía người sản xuất hoặc cơ quan tiêu chuẩn hóa của đất nước đó đưa ra , Vậy chúng ta hãy thử đi vào từng chỉ tiêu lý hóa để xét giá trị của nó khi đánh giá một sản phẩm , Và vấn đề chúng ta chỉ giới hạn đối với các chất bôi trợn .

 

1. Hình dạng bên ngoài mầu sắc của sản phẩm Chỉ tiêu này là một loại chỉ tiêu cảm quan nó có ý nghĩa một phần nào đó đối với dầu và nói được khá nhiều điều đối với mỡ , Dầu là chất lỏng đó là chuyện thường tình , Nhưng với mỡ lại lá chuyện khác , Có khi mỡ là chất rán khi là chất kỏng khi là một chất đặc ,chất quánh . Với mỡ này trông trong suốt như thạch nhưng mỡ khác lại đục mờ ,Có mỡ có dạng sợi có mỡ lại trông rời rạc . Vì thế mới có các tên rất dân gian nhu mỡ cứt trâu . mỡ cơm nguội ; Với mầu sắc của dầu chúng ta có khả năng suy đoán về cách tinh chế sản phẩm . Dầu tinh chế theo phương pháp a xit thường có mầu tối .ánh xanh còn dầu tinh chế bằng phương pháp chọn lọc thì có mấu sáng vàng , đỏ , cánh gián ....dầu biến thế thường không mầu trong suốt như nước lọc Với quan sát bề ngoài người ta đã có những phỏng đoán sơ bộ về môt sản phẩm.

2, Mùi Mùi sản phẩm đôi khi cũng cho chúng ta những chỉ dẫn thú vị, Người ta có thể nhận ra mùi dầu phanh khác với dầu thông thường .. Người ta có thể phân biệt rât nhanh sản phẩm có phụ gia EP và sản phẩm không có phụ gia EP bởi nùi đặc biệt của phụ gia này, Có khi người ta còn nhận thấy mùi khen khét của những sản phâm để lâu , bị o xi hóa ,

3, Tính hòa tan . Khả năng hòa tan cũng là một thuộc tính có thể tận dụng khi phân tích, đoán nhận một sản phẩm . Cùng là dầu phanh nhưng dầu phanh có gốc glycol lại dễ tan trong nước ,dầu phanh gốc dấu thầu dầu thì không, Trong chiến tranh chống Mỹ ,do vận chuyển xa, đường xấu mà nhãn mác trên thùng đựng mỡ thường bị nhạt nhòa , bong tróc . Làm thế nào để phân biệt mỡ YI và mỡ YC khi hàng mất nhãn . Nhờ xem xét tính tan mà dễ dàng phân biệt được mỡ YC và mỡ YT là hai dạng mỡ có nhiệt độ nhỏ giọt khác nhau hàng chục độ . Thế là chỉ trung vài giây chúng ta đã phân biệt hai loại mỡ mà chẳng phải cần có thiết bị đo nhiệt độ nhỏ giọt khó tìm kiếm , mất thời gian

 4.Tỉ trong , khối lượng riêng

Với định nghĩa Tỉ trọng d theo công thức d= m : V trong mối tương quan giữa khối lượng m và thể tíchV . Ta thấy ngay ý nghĩa trong quan hệ buôn bán ,giao nhận hàng : Biết thể tích biết tỉ trọng thì tìm ra khối lượng hoăc biết khối lượng và biết tỉ trọng là biết được cần thể tích bao nhiêu để chứa đựng , Ngoài ra qua tỉ trọng chúng ta cũng có những chỉ dẫn thêm về sản phẩm : -Những sản phẩm có tỉ trọng lớn hơn 1 chắc chắn không phải thuộc nhóm dầu có nguồn gôc dầu mỏ, -Những sản phẩm đặc hơn , nhớt hơn thì có tỉ trọng lớn hơn

5.Độ nhớt và chỉ số độ nhớt

Độ nhớt của sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khă năng bôi trơn của sản phẩm , Đã nói đến dầu là phải nói đến độ nhớt của nó, Ngay cả nhiên liêu thì chỉ tiêu độ nhớt của một số nhiên liệu cũng có ý nghĩa quan trọng trong sử dụng , Những nhiên liệu như nhiên liệu máy bay phản lực, nhiên liệu diêzen, nhiên liệu đốt lò mà việc cấp nhiên liệu vào buồng đốt nhờ việc bơm phun thì độ nhớt của nhiên liệu là quan trọng lắm ,Độ nhớt thấp làm cho nhiên liệu có phun được xa như ý muốn và sự hòa trộn nhiên liệu vì vạy không tốt kết quả là sự đốt nhiên liệu không hoàn hảo, Trong chiến tranh , cả khi đã hòa bình có những lúc ta có thừa dầu hỏa lại không sẵn nhiên liệu diêzen thế là một cách làm rất thực tế và cũng có cơ sở khoa học là pha thêm dầu nhờn vào dầu hỏa làm cho độ nhớt tăng lên đến múc ta có thể dùng nó cho xe chạy dầu. Độ nhớt giảm xuống khi nhiệt độ tăng lên nghĩa là độ nhớt phụ thuộc vào nhiệt độ , i Nhiệt độ để xác định độ nhớt của một loại sản phẩm cần gần với nhiệt độ ở đó mà sản phẩm thường xuyên làm việc hoặc phải chịu đựng , Ví dụ với dầu hỏa phản lực phải đo ở nhiệt độ thông thường 20OC cũng phải đo độ nhớt ở những nhiệt độ âm vì máy bay lên cao đến 9-10 km nhiệt độ ngoài trời có thể giảm xuống -60 đến -70OC và còn thấp hơn thế .Với nhiên liệu diêzen người ta có thể lấy nhiệt độ đo nhớt ở 15 hoặc 20OC . Với các dầu công nghiệp và dầu thủy lực thì người ta lấy nhiệt độ ở 100OF hay 40OC là nhiệt độ chuẩn để đo độ nhớt vì khi làm việc ma sát chỉ đủ để cho chúng ấm lên . Với dầu động cơ do nó phải làm mát động cơ rất nóng khi làm việc , tiếp xúc với khí cháy, đi vào các rãnh khe trong buồng đốt mặt khác lại cần khởi động dễ dàng khi máy nguội lạnh nên nhiệt độ để xét độ nhớt là rất khác nhau :100OC và 40OC ( tương đương với 210OF và 100OF ). Chỉ thấy một dầu nào đó chỉ qui định đo độ nhớt ở 40OC thôi có thể đã suy đoán đó là dầu thủy lưc hoặc dầu công nghiệp còn dầu qui định đo độ nhớt ở cả 40 và 100 OC thì khá chắc chắn đó là dầu dùng cho động cơ , Độ nhớt của dầu phụ thuộc vào nhiệt độ đó là điều hiển nhiên song sự phụ thuộc đó nhiều hay ít phải qua khảo sát và tính toán , Bằng công cụ toán học người ta đã đưa ra một khái niệm là chỉ số độ nhớt VI , Theo các phương trình toán học và bảng tính dựa trên kết quả đo độ nhớt của dầu ở 100 OC và 40 OC ngưới ta có kết quả của chỉ số nhớt .Chỉ số nhớt-VI có ý nghĩa quan trọng trong thưc hành : Những dầu có độ nhớt ở 100OC như nhau nhưng dầu nào có chỉ số nhớt lớn hơn là dầu động cơ có tính bôi trơn tốt hơn vì độ nhớt của nó biến dổi it hơn so với dầu kia. khi nhiệt độ thay đổi . Vì thế mà chỉ nhìn vào VI mà người ta có thể nói dầu thực vật và dầu tổng hợp có tính nhiệt-nhớt tốt hơn dầu gốc dầu mỏ . Và khi so sánh hai dầu cùng có cấp độ nhớt như nhau ở 100OC thì người ta nên chọn dầu có VI cao hơn.

6, Nhiệt độ chớp cháy :

 Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng, có ý nghĩa thực dụng và hay được công bố đối với dầu nhờn Nhiệt độ này được dùng để đánh giá khả năng bị cháy của sản phẩm . Dùng một sản phẩm có nhiệt độ chớp cháy cao thì an toàn hơn và sản phẩm ít bị cháy tất nhiện làm việc ổn định lâu dài hơn sản phẩm dễ bị cháy , Nhưng tại sao phải xác định nhiệt độ chớp cháy mà không phải là nhiệt độ cháy của sản phẩm , Nhiệt độ chớp cháy là nhiệt độ ở đó sản phẩm bắt lửa và cháy nhưng chỉ cháy trong vòng dưới 5 giây mà thôi. Người ta thấy hiện tượng cháy rồi lại tắt khác gì một tia chớp bùng lên lại tắt ngấm nên có khái niệm chớp cháy Chỉ có ràng buộc điều kiện cháy dưới 5 giây thì việc định nghĩa được rõ ràng và việc xác định mới chính xác , Nhiệt độ cháy của sản phẩm là nhiệt độ tại đó mà gơi sản phẩm với không khí cháy ( mà không bị tắt ) , Nhiệt độ này tất nhiên là cao hơn nhiệt độ chớp cháy nhưng khi xác định nó thì kết quả thí nghiệm sẽ khó bình luận l Thêm vào đó người ta đưa ra khái niêm chớp cháy cốc hở và chớp cháy cốc kín cũng là gắn liền với thực tế là có khi sản phẩm bị cháy ở nơi hở cũng có khi bị cháy ở nơi đóng kín . Tuy nhiên việc vận dụng không hẳn máy móc như vậy , Nhiệt độ chớp cháy cốc hở thường cao hơn nhiệt độ chớp cháy cốc kín nhưng cần xác định theo kín hoặc hở tùy theo loại sản phẩm , Đa số sản phẩm dầu được xác định theo nhiệt độ chớp cháy cốc hở vì thiết bị đơn giản và dễ xác định , Chỉ một số sản phẩm thuộc loại dầu có độ nhớt thấp như dầu biến thế và các nhiên liệu như dầu hỏa,DO và FO là xác định nhiệt độ chớp cháy cốc kín mà thôi. Xăng thì cháy cả ở nhiệt độ âm do đó chẳng cần xác định ta cũng biết được nó rất dễ cháy , Giả sử ta cố tình xác định nhiệt độ chơp cháy cốc hở của chúng thì vẫn có kết quả nhưng các kết quả này kém ổn định vì khi gia nhiệt cac thành phần nhẹ rất dễ bị thất thoát ( vì hở ) nên khó thu được những kết quả lặp lại và ít sai khác . Vậy có thể hiểu là đối với nhiên liệu và các dạng dầu có độ nhớt thấp như dầu biến thế cần phải thí nghiệm cốc kín ,Các trường hợp khác thì chỉ cần đo nhiêt độ chớp cháy hở .Tuy nhiên xác định nhiệt độ chớp cháy cốc kín trong phòng thí nghiệm cũng có ưu điểm là gây ít ô nhiễm cho môi trường làm việc nên một số hãng dầu đối với các dầu mới cũng đưa ra việc xác định nhiệt độ chớp cháy kín thay cho nhiệt độ chớp cháy hở như ta nghĩ thông thường. Những người làm công tác nghiên cứu lại đo cả nhiệt độ chơp cháy kín lẫn nhiệt độ chớp cháy hở mà qua sự chênh lệch nhiệt đô chớp cháy giữa thiết bị kín và hở phát hiện ra những thành phần nhẹ hoặc nhiên liệu lẫn vào trong dầu có nhiều hay ít. Như vậy đo nhiệt độ chớp cháy theo các phương pháp khác nhau chúng ta thu được khá nhiều thông tin đối với một mẫu dầu, Các thông tin đó là khả năng cháy ,các thành phần nhẹ sự lẫn nhiên liệu vào dầu trong quá trình làm việc của đông cơ .

 
TÍNH THỰC DUNG CỦA CÁC CHỈ TIÊU LÝ HÓA In Email

 

 

7.Độ tro và cặn các bon của sản phẩm

 

Trong sản phẩm không bao giờ có tro và cặn cacbon , Các chỉ tiêu này phản ảnh khả năng hình thành các sản phẩm tro và cặn cacbon trong quá trình bôi trơn . Trong động cơ có hiện tượng dầu bị cháy tạo ra những sản phẩm cháy với mức độ khác nhau :cháy thành tro và cháy thành than , cháy dang dở   Nếu dầu chỉ là các hydrocacbon đơn thuần , khi bị cháy hoàn toàn sẽ nhận được CO2 và nước - H2O Trong dầu nhờn thông thường , ngoài thành phần hữu cơ là chính còn có một lương rất nhỏ là các tạp chất vô cơ và những chất cơ-kim của phụ gia mà khi cháy tạo ra các oxit kim loại Trong dầu nhờn thông thường , ngoài thành phần hữu cơ là chính còn có một lương rất nhỏ là các tạp chất vô cơ và những chất cơ-kim của phụ gia mà khi cháy tạo ra các oxit kim loại Tro là sản phẩm vô cơ , là các o xit kim loại ; là phần của dầu nhờn không thể bị đôt thêm hoặc nung cháy .. Tro có tác hại bào mòn với động cơ .Tất nhiên không ai đưa dầu vào động cơ để đốt cá, Bị đôt cháy một phần là kết quả tất yếu của dầu khi bôi trơn cho động cơ, Nếu quá trình cháy diễn ra chưa tới mức hoàn toàn thì sản phẩm nhận được là một hỗn hợp khá phức tạp gồm phần dầu chưa cháy hết , tro ,than , phần dầu bị crăking,v.v....tất cả gọi là cặn cácbon mà theo những tài liệu của Liên xô trước đậy vẫn gọi là Cốc .

 

Cốc được định nghĩa là sản phẩm quá trình cháy thiếu o xi . Việc đánh giá hàm lượng cốc có tính tương đối , vì thiết bị tạo cốc là khá khác nhau, Người ta có thể tạo cốc dầu bằng việc dốt dầu trong điều kiện thiếu không khí trong một chén sứ của một thiết bị đốt gọi là “lò cốc hóa * phương pháp Conradson) và cũng có thể tạo cốc bằng cách đốt trong một ampun thủy tinh có đường khí vào rất hẹp để trong lò đốt bằng điện duy trì ở 500 OC ( Phương pháp Ramsbottom ) 

 

Nhìn tổng quát lại : khi dầu động cơ làm việc , một phần lớn dầu được duy trì để bôi trơn và một phần nhỏ bị cháy tạo ra các sản phẩm ở các mức độ cháy khác nhau gọi là cặn cacbon gồm tro và sản phẩm cháy dở dang , sản phẩm craking, than . CO2 và H2O thoát ra ngoài không khí theo đường xả khí. ,

 

Cặn các bon gây tác hại mài mòn, làm bẩn , keo dính trong động co .Chúng ta có thể tháy nó khi bổ máy .Người ta xácdinh cặn các bon không ở dầu thành phẩm mà ngay từ khi còn ở dạng nguyên liệu đầu vào-dầu gốc để chế dầu động cơ sao cho tạo ra sản phẩm tốt nếu bị cháy thì sẽ không tạo ra nhiều cặn các bon .

 

Tro sunfat

 

Để xác định tro người ta phải đốt và nung sản phẩm ở trên 700OC ,Trong diều kiện này một số oxit kiểu oxit kẽm có thể bay hơi gây thất thoát sai lệch đến kết quả thí nghiệm

 

Do đó người ta cần chuyển chúng sang dạng ổn định hơn đó là dạng sunfat ,Cần sul fat hóa tro, khi này ta có tro sụlfat .

 

Việc đánh giá hàm lượng tro và tro sul fat có ý nghĩa để đánh giá lượng chất vô cơ trong dầu bị nhiễm trong quá trình bôi trơn ( Ví dụ kim loại bị mài mòn lẫn vào dầu) và đánh giá phân kim loại của chất cơ-kim dùng làm phụ gia mà có .

 

Qua xác định tro có thể phát hiện ra dầu thật ( có phụ gia) và dầu giả ( không có phụ gia ) cũng như để nghiên cứu hàm lượng phụ gia bị biến đổi theo thời gian sử dụng dầu .

 

 

 

8,Độ kiềm và a xit

 

Để dánh giá môi trường một chất người ta đo độ pH của chúng , Những chất có pH-7 đươch gọi là chất trung tính . Những chất có pH>7 là những chất kiềm . Những chất có pH<7 là những chất a xit

 

Muốn đánh giá về lượng người ta thông qua các chỉ số : chỉ số axit-TAN và chỉ số kiềm -TBN

 

Thông thường dầu sản xuất ra là trung tính kể vả các dầu tinh chế bằng a xít hoăc kiềm đi nữa đều phải trung hòa mới đi đến sản phẩm lưu hành , Các dầu động cơ hiện đại có pha thêm phụ gia mang tính chất kiềm nên có tính kiêm ,Chỉ số kiềm dầu động cơ thoong thường cỡ 4-10 mg KOH,g dậuong khi đó dầu động cơ hàng hải có chỉ số kiềm rất cao tới cỡ vài chục.

 

Các a xit và kiềm vô cơ

 

Các kiềm và a xít vô cơ là chất ăn mòn mạnh , rất có hại khi sử dụng dầu , chúng khó tan trong dâu nhưng rất dễ tan trong nước . Không có ai điên rồ mà tìm cách pha chúng vào dầu cả .Chúng có thể có trong dầu khi sự trung hòa trong quá trình làm sạch có thiếu sót và khi có sự cố tình phá hoại Có thể phát hiện dễ dàng kiềm hoặc a xit vô cơ bởi vì chúng khác với a xit và kiềm hữu cơ ở chỗ dễ dàng tan trong nước do đó dễ dàng lấy ra bằng nước nên chỉ cần xóc mạnh dầu nhờn với nước trung tính rồi đem kiểm tra phần nước tách ra với chất chỉ thị là phát hiên ra dầu đó có kiềm hoặc a xít vô cơ hay không,

 

Dầu nhờn cũng như các chất hữu cơ nói chung có ehất trung tính có chất mang tính kiềm có chất mang tính a xit . . .

 

Khj định xác định chỉ số kiệm và chỉ số axit ở các phương pháp khác nhau , ở các nước khác nhau có cho những kết quả rất chênh lệch , Nguyên nhân chủ yếu là vấn đề điểm dừng khi chuẩn độ .

 

       -Theo phương pháp Nga- GOST thì chất chỉ thị được dùng là nitrazin vàng

 

có bước chuyển mầu là ở pH= 6.0-7,0 rất gần với 7

 

-       -Theo phương phán của Mỹ ASTM D 974 lại dùng chỉ thị metyl da cam với bước chuyển mầu ở pH=4,2-4,4

 

 

 

Trong quá trình oxi hóa dầu sẽ tạo ra những axit hứu cơ . Điều này được nhận thấy ở chỉ số a xít tăng lên hoặc ở chỉ số kiềm giảm xuống ,

 

Trong khi xác định TAN có khi nhận được giá trị khá lớn nhưng không nên kết luận võ đoán về vấn đề ăn mòn vì khi chuẩn độ có thể tạo ra những môi trường có tính chất đệm

 

làm cho pH rất khó biến đổi mặc dù tốn phí khá nhiều hóa chật

 

Điều hiển nhiên là các dầu động cơ mang phụ gia kiêm tính phải có độ TBN lớn .Đặc điểm này cho chúng ta dễ dàng phân biệt giữa dầu thật và dầu giả ,

 

Chất kiềm trong phụ gia mang kiềm tính không dễ gây ăn mòn tới các kim loại của động cơ,

 

 

 

9).Cặn pen tan cặn Tôluen

 

Trong quá trình sử dung, dầu sinh ra cặn bẩn . Cặn pen tan,cặn toluen,cặn đông tụ là những thuật ngữ khác nhau người ta dùng khi nghiên cứu cặn bẩn,

 

Khi bôi trơn bằng dầu nhờn có hai nhóm quá trình xảy ra :

 

-Nhóm thứ nhất là dầu bị biến chất có thể bị o xi hóa , bị cháy , bị craking v.v...theo các mức độ khác nhau

 

-Nhóm quá trình thứ hai là dầu bị nhiễm bẳn do ăn mòn, mài mòn , do chất bản từ bên ngoài đưa vào,

 

Sản phẩm của hai nhóm quá trình này là những cặn bẩn vô cơ và cặn bẩn hữu cơ,

 

Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn và phân biệt sự diễn biến tạo cặn bẩn hai quá trình này người ta tiến hành xác định cặn pen tan và cặn tôluen

 

 

 

Cặn pen tan

 

Pentan là một hydro cacbon mạch thẳng khi đưa vào mẫu dầu nó sẽ có tác dụng làm kết tủa các chất bẩn ra khỏi dầu . Chất bẩn tìm ra được như vậy gọi là cặn pentan.

 

Cặn pen tan trước hết cho ta đánh giá về sự nhiễm bẩn và biến chất của dầu;

 

Làm thế nào để phân biệt được phần cặn bẩn do dầu bị biến chất sinh ra với chất cặn bẩn nói chung, Bí quyết là ở chỗ các căn bẩn do biến đổi chất là những căn hữu cơ, tan được trong toluen. Vì thế khi cho toluen tiếp xúc với cặn pentan ta làm hóa tan và trích li di phần hữu cơ của nó , phần còn lại đó là phần cặn bẳn vô cơ mà ta gọi với trường hợp này là cặn toluen ;

 

Chất không tan trong toluen - các tạp chất vô cơ bao gồm các tạp chất nhiễm bẩn bên ngoài , là cacbon của nhiên liệu ,của dầu nhờn,của phụ gia khi bị cháy sinh ra ,là các chất bẩn tạo ra do ăn nòn ( gỉ) và mài mòn ( các mạt kim loai)

 

 

 

Trong dầu động cơ , người ta thường sử dụng các chất phu gia phân tán làm cho cặn bẩn đã sinh ra, tuy không tan nhưng không thể tách ra đươc mà lơ lửng trong dầu làm cho thí nghiệm không tiến hành được .

 

Trong trường hợp này người ta phải sử dụng chất đông tụ thì mới tách được chất bẩn ra Dùng chất động tụ kết hợp với pen tan để xác định cặn bẩn được gọi là cặn pen tan -dông tụ ,

 

Sau khi thu được cặn pen tan -đông tụ thì người ta cúng dùng toluen để phân biệt phần hữu cơ với phần cặn vô cơ như dã làm ở trên..

 

 

 

10). Xác định khả năng oxi hóa

 

Khi bị o xi hóa các hợp chất có tính a xít và các chất nhựa hình thành

 

Có thể kiểm tra TAN.và hàm lượng nhựa để đánh giá tính chất bị o xi hóa của dầu,

 

Để xúc tiến quá trình oxi hóa ngưới ta liện tục đưa dòng oxi vào bình phản ứng, nâng nhiệt độ thí nghiệm và sử dụng xúc tác là đồng .Sau những thời gian nhất định người ta kiểm tra trị số a xít và hàm lượng nhựa hình thành để đánh giá mức độ oxi hóa.

 

Tính chất oxi hóa đặc biệt quan trọng đối với các dầu như dầu biến thế , dầu tuyếc bin ,

 

11 ) -Tính tạo bọt :

 

Tính tạo bọt là khả năng dầu tạo thành bọt khi khuấy trộn mạnh nó với không khí , Dầu tạo bọt tất nhiên khả năng bôi trơn của nó bị giảm xuông

 

Người ta sử dụng phụ gia để chống tạo bọt , phụ gia này không dễ dàng tan trong dầu ,có khuynh hướng tách dần ra khi dầu được để yên. Trong quá trình làm việc ,dầu nhờn bị khuấy trộn ;các phụ gia chống tạo bọt bị tách ra lại được phân tán trở lại và phát huy hiệu quả tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của bọt dầu, làm cho bọt vỡ ra mau chóng

 

Ở những nhiệt độ khác nhau thì khả năng tạo bọt khác nhau ;dầu đã được khuấy trộn thì tính chống tạo bọt được cải thiện.

 

Để mô phỏng những điều đó người ta chia làm 3 thí nghiệm khác nhau:

 

               -Đo sự tạo bọt ở 24O C

 

               -Đo sự tạo bọt ở 93,5O C

 

              -Đo sự tạo bọt ở 24O C ngay đối với mẫu vừa đo sự tạo bọt ở 93,5O C được để nguội trở lại

 

Ở thí nghiệm thứ ba ,mẫu dã dượ khuấy trộn bằng cách thổi hơi ở nhiệt độ cao và thời gian , lưu lượng qui định

 

Các đâu bánh răng chạy ở tốc độ cao,dâu bôi trơn động cơ và dầu dùng cho máy bơm có lưu lượng lớn dễ tạo bọt nên cần khảo sát tính tạo bọt và dùng phụ gia chống bọt .

 

 

 

12)Thí nghiệm tạo nhũ :

 

Nhũ có thể sinh ra khi dầu gặp nước . Trường hợp này xảy ra đối với dầu tuabin và dầu xi lanh .

 

Người ta có nhiều cách thí nghiệm khác nhau để khảo sát sự tạo nhũ và phá nhũ của dầu : hoặc làm cho dầu bị nhũ với luồng hơi nước đun sôi hoặc làm cho dầu bị nhũ khi khuấy mạnh dầu với nước ,

 

Thí nghiệm về nhũ nhằm tìm ra nguyên liệu và phụ gia có tính chống tạo nhũ cao nhằm sản xuất ra dâu có thời gian sử dụng dài .

 

 

 

12) kim loại

 

Trong dầu thô chỉ có một lượng rất nhỏ kim loại , Không phải dễ dàng đưa được kim loại vào các sản phẩm dầu mỏ bởi vì dầu mỏ là các chất hữu cơ. Nói một cách cụ thể là không thể có sát, nhôm, kẽm , chì, man gan trong xăng dầu nếu dùng vật chứa xăng dầu làm từ các kim loại và hơp kim kể trên.   Không đơn giản trong xăng có chì ,có Man gan là do cho chì, mangan tiếp xúc với xăng ,Con đường để đưa kim loại vào sản phẩm dầu mỏ là tạo ra các hơp chất cơ- kim nghĩa là tạo ra các hợp chất hưu cơ có kim loại, Chỉ có các hợp chất cơ-kim là hòa tan được trong sản phẩm dầu mỏ mà thôi .Cho đến ngày nay khi thế giới từ bỏ xăng chì thì nước ta cũng chưa thể sản xuất ra một giọt xăng có chì vì chúng ta chưa có một phòng thí nghiệm nào tổng hợp được dù là 1 miligam Tetraetyl chì nghĩa là chúng ta lạc hậu so với họ hàng thế kỷ .

 

Trong dầu nhờn động cơ hiện nay có các kim loại như Ba,Ca, Fe,Zn ....là chuyện thường tình , Chúng có mặt là do chúng ta sử dụng phụ gia . mà các phụ gia đó là những hợp chất cơ - kim . Vậy khi kiểm tra hàm lượng cac kim loại này là ta đã kiểm tra các phụ gia trong dầu . Trong các xưởng để có thể pha chế dầu chính xác theo đơn cho sẵn ngưởi ta phải kiểm tra hàm lượng kim loại thông qua các phương pháp hóa học như chuẩn độ phức và các phương pháp vật lý như dùng quang phổ hấp thụ nguyên tử-AAS. Phương pháp AAS đã chỉ ra rất thích hợp với kiểm tra khi sản xuất và khi quản lý sản phẩm lưu hành vì nó rất nhanh và nhậy lại có độ chính xác chấp nhận được. Những dầu rởm không có phụ gia bị phát hiện nhanh chóng khi kiểm tra AAS .

 

 

 

13) Nhiêt độ đông đặc ; Ở điều kiện lạnh , kiểm tra điểm đông đặc của dầu là cần thiết . Dầu nhờn không thể bôi trơn được nếu nó bị đông đặc , Trong điều kiện nước ta trừ dầu dùng cho máy lạnh và dầu hàng không thì việc đo nhiệt độ đông đặc của dầu nói chung là không cần lắm .

 

 

 

14) Điện áp đánh thủng hoặc tang của góc tổn thất điện môi

 

Chỉ tiêu này ở trong phần cuối bài viết không phải vì nó kém quan trọng mà vì nó đòi hỏi cho số ít dầu đặc biệt đó là dầu biến thế , Tinh cách điện của dầu thể hiện qua chỉ tiêu vật lý : điện áp đánh thủng hoặc tang của góc tổn thất điện môi là rất quan trọng đối với dầu biến thế, Để cải thiện chỉ tiêu kể trên . người ta cũng dùng phụ gia : chất PCB , Trong một thời gian rất dài cỡ vài chụ năm, PCB tưởng chừng vô hại . Hiện nay nó được xem như một tác nhân gây ô nhiễm môi trường rất đáng quan ngại . Cho nên thế giới ngày nay thật là phức tạp , Chỉ có những điều ta chưa biết và chưa hiểu rõ mà thôi !

 

 

 

Trình bày các tính chất lý hóa của sản phẩm dầu mỏ để nói rằng mỗi một chỉ tiêu đêu có ý nghĩa thực dụng của nó trong sản xuất, sử dụng ,bảo quản, trong trao đổi hàng hóa, Từng chỉ tiêu quan trọng đối với dầu này lại có thể bỏ qua đối với dầu khác.

 

Điều rõ ràng là chúng ta cần hiểu đúng giá trị của chúng trong thực tế như thế nào mà thôi.

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                               tiêp

 

 
Lựa chọn mỡ nhờn In Email

Để lựa chọn mỡ cho thích hợp với công  việc của bạn chúng tôi xin gợi ý những điểm sau

1.Mục đích sử dụng :

Dùng mỡ để bôi trơng hoặc dùng để chống gỉ . Nếu mục đích chính của việc dùng mơ của bạn là để chống gỉ thì bạn nên sử dụng mỡ bảo quản mặc dù nhìn chung mỡ bôi trơn nào cũng có tính chống gỉ Tuy nhiên việc dùng mỡ chuyên dùng cho bảo quản có nhiều mặt thuận tiện , ưu việt của nó . Ví dụ như mỡ bảo quản có nhiệt độ nhỏ giọt thấp do đó khi tiến hành bảo quản với những lượng lớn với những vật có kích thước lớn nhỏ khác nhau rất là thuận tiện : người ta có thể dễ dàng đun nóng chẩy chúng rồi tiến hành bôi , quét hoặc nhúng vật bảo quản vào hoặc khi cần phá bỏ lớp mỡ bảo quản đi chúng ta có thể tiến hành rất dễ dàng chỉ cần làm nóng dưới 100OC

 

2.Điều kiện làm việc :

Dùng bôi trơn cho bánh răng hay ổ bi hay các cặp ma sát khác , với tốc độ như thế nào Như với ô tô chỉ cần nói đến việc bôi trơn các bộ phận có ổ bi như moayơ bánh xe là ta nghĩ ngay đến mỡ chịu nhiệt còn với các bộ phận khác thì không cần mỡ phải chịu nhiệt

mà ưu tiên đến tính chịu nước. Còn nhíp xe là bộ phận chịu tải và tiếp xúc với môi trường  thì chịu tải và chịu nước là điều cần lưu ý.

 

3.Môi trường làm việc:

Môi trường làm việc của mỡ có ý nghĩa rất quan trọng . Một loại mỡ có thể rất tốt trong môi trường này nhưng lại không thích hợp trong môi trường khác. Khi làm việc ở môi trường có nước thì cần dùng mỡ chịu nước , Các mỡ chịu nước tốt là mỡ Can xi, mỡ Liti . Mỡ xà phòng Natri là loại mỡ không chịu được nước . Ta có thể nhận  ra chúng tan dễ dàng khi thoa chúng trên đầu ngón tay với 1 chút  nước .Có những môi trường mà mỡ phải chịu đựng rất khắc nghiệt như môi trường xăng dầu , cũng có những môi trường  cực kỳ khắc nghiệt như a xit HNO3 .

 

4.Nhiệt độ .

Nhiệt độ làm việc của mỡ là một chỉ tiêu quan trọng , Người ta đánh giá khả năng chịu nhiệt của mỡ thông qua điểm nhỏ giọt của mỡ . Điểm nhỏ giọt của mỡ là nhiệt độ mà ở đó có giọt dầu đầu tiện tách ra khỏi mỡ,thoát ra ở dưới đáy một chiếc cốc nhỏ xíu đựng mỡ của dụng cụ thí nghiệm . Hiểu một cách đơn giản là nhiệt độ tại đó mà bắt đầu có sự tách dầu khỏi mỡ..Thông thường chấp nhận nhiệt độ làm việc được của mỡ là khoảng dưới nhiệt độ nhỏ giọt cỡ 6 oC , Nhiệt độ nhỏ giọt của mỡ phụ thuộc vào bản chất của chất làm dặc dầu nhờn để tạo thành mỡ. Các chất làm đặc như phẩm mầu hữu cơ ( một phức chất hữu cơ có đồng ) , hoặc là chất vô cơ kiểu như đất sét có khả năng chịu nhiệt rất cao . Trong các chất làm đặc là xà phòng thì xà phòng Liti có tính  chịu nhiệt cao trên 170-180 OC , xà phòng Na trên  130OC còn xà phòng Can xi chỉ chịu  cỡ 80-90 OC mà thôi  . Ngày nay người ta nghiên cưu ra các mỡ phức kiểu mỡ phức Can xi tạo ra những loại mỡ vừa chịu được nước lại chịu nhiệt độ cao đến cỡ 200oC Nói đến nhiệt độ của mỡ phải trải qua  khi bôi trơn có thể là do nhiệt ma sát  nhưng cũng có thể là nhiệt độ của môi trường ví dụ nhiệt độ của các lò nung xi măng..

 

5.Áp lực tải trọng trên bề mặt ma sát

Tải trọng lên bề mặt ma sát cũng là một yếu tố cần phải lưu ý khi dùng mỡ môi trơn. Nhiều bánh răng do kiểu bánh răng ( loại trục vít. , hoặc Hipoit ,...) do điều kiện chịu tải cụ thể mà bề mặt bánh răng chịu áp lực rất lớn dẫn đến bánh răng bị cháy, bị chảy ra , kẹt dính lại đòi hỏi phải dùng những dầu mỡ đặc biệt có những phụ gia chịu cực áp ký hiệu là dầu mỡ chịu cực áp - tiếng Anh là Extra Pressure (viết  tắt EP ) , chúng ta được biết tên 1 trong các phụ gia được dùng đó là Cloref-40 , Để tăng tính chịu áp cho mỡ người ta còn sử dụng chất độn cho mỡ như sử dụng bột Graphit , bột Môlipden disunphua chúng ta có các mỡ gọi tên là mỡ graphit hay phán chì, mỡ Molipden .Trong quá trình bôi trơn , các hạt phấn chì , Molipđen đisunphua  -MoS2  đóng vai trò những viên bi cực nhỏ lăn giữa hai bề mặt tiệp xúc tăng cường khả năng chịu tải .

 

6.Độ cứng mềm của mỡ :

Khi sử dụng mỡ ,người ta cần lưu ý đến tính chịu nhiệt .chịu áp , chịu môi trường tiếp xúc người ta còn cần quan tâm cả đến độ cứng mềm của mỡ .

Người sử dụng có nhu cầu sử dụng loại mỡ sao cho có độ cứng mềm theo nhu cầu của mình mong muốn . Nhu cầu này là quan trọng đến mức người ta đưa nó thành một chỉ tiêu để phân loại mỡ .Giống như việc đánh giá độ cứng mềm của các vật liệu khác như kim loại , bê tông ,mặt đường xá người ta đo độ cứng mềm theo kết quả gây nên bởi  1 lực lên bề mặt đó . Đối với mỡ ở 25OClà sự lún sâu xuống của một chóp nón hình trụ có lích thước xác dịnh với 1 khối lượng là 37g , đặt trên măt mỡ trong thời gian là 5 giây . Độ lún có đơn vị đo là độ dài tương đương  với 1/10 milimet ,Khi ta nói độ lún là 175 nghĩa là sau thí nghiệm chóp nón lún xuống 175 x 1/10 mm =17,5 mm = 1,75 cm .

Trong thí nghiệm đo độ cứng của sáp hoặc nhựa đường việc dùng chóp nón như thế này là không được cho nên người ta phải dùng 1 chiếc kim để làm thí nghiệm nên có khái niệm gọi là độ xuyên kim . Trong giai đoạn kỹ thuật lạc hậu , một số tài liệu xuất phát từ các bài giảng có nguồn gốc Trung quóc , từ”độ xuyên kim” được lưu lại tới ngày nay thiết nghĩ cũng nên bỏ bởi từ ngữ của ta cũng thừa đủ để diễn đạt mà còn chính xác hơn.

Lưu ý từ nguyên bản tiếng Anh Penetrration = lún ,xuyên sâu là tiếng xuất phát từ Au-Mỹ là nơi phương pháp đo này được xây dựng .

Nếu hiểu đơn giản là chóp nón lún càng sâu nhiều trong mỡ thì độ lún càng cao thì mỡ càng mềm . Để thuận tiện Viện  Nghiên cứu về mỡ của Mỹ NLGI đưa ra các khái niệm về độ cứng mềm của mỡ thành 9 nhóm khác nhau  từ 000 ( ba số 0), 00 ( hai số 0) , 0( mỡ 1 số 0) rồi các mỡ số 1,2,3,4,5,6 . theo một trật tự mỡ từ cực mềm trông giống nhu một chất  sền sệt như dầu đến rất cứng dạng các cục sáp  Độ cứng này  được xác định nhờ thí nghiệm đo độ lún mỡ . Mọi người có thể biết được mỡ của mình sử dụng thuộc nhóm nào sau khi đo độ lún của mỡ và căn cứ vào bảng sau của NLGI

 

Phân loại mỡ

theo độ cứng ( độ lún) của  mỡ

                                                     do NLGI xây dựng

 

Tên gọi

Độ lún mỡ , 0.1 mm

000

(ba số 0 )

445-475

00

(hai số 0 )

400-430

0

(một số 0 )

355-385

1

310-340

2

265-295

3

220-250

4

175-205

5

130-160

6

85-115

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Việc phân loại này rất thuận tiện và được các hãng lớn công nhận . Do đó các số 1, 2, 3 trong ký hiệu của mỡ đều có ý nghĩa của nó - chỉ về độ cứng của mỡ. Tuy nhiên còn tồn tại những

loại mỡ được ký hiệu theo khối Sôviết trước dây như YC1.YC2, YC3,YT1, YT2 ,

người dùng hãy thận trọng khi nói các số 1,2,3 này vì  nó không có ý nghĩa như phân loại của NLGI .

Ngày nay có lẽ vì Liti là một sản phẩm phụ kèm theo của công nghệ hạt nhân nên việc sản xuất và lưu hành mỡ Liti là khá phổ biến  nhưng người ta vẫn sản xuất các loại mỡ kinh điển như mỡ Na, mỡ Ca ,....Ở Việt nam chúng ta còn sản xuất ra loại mỡ với giá thành rất cạnh tranh với các mỡ nhập ngoại kiểu mỡ Canxi mà phía nam đã  làm ra .Công ty TNHH Huy phat cũng có thực lực mạnh trong việc sản xuất các mỡ để phục vụ nhu cầu khách như mỡ bảo quản , mỡ 1-13, mỡ chịu áp Graphit, mỡ Moly ,  Chúng ta nên nhìn nhận và tự hào về những sự kiện đó.

 
Chọn dầu động cơ In Email

                                                CHỌN DẦU ĐỘNG CƠ

Bài này giới thiệu những nét chung trong việc lựa chọn dầu động cơ .

Chúng tôi không nêu ra thành nguyên tắc hoặc qui tắc song những điều nói  ra ở đây thiết nghĩ bạn đọc có thể tham khảo để cân nhắc trong các công việc cụ thể của mình .

Khi chọn dầu động cơ  phải xác định loại động cơ gì ;

Phổ thông trong đời sống quanh ta là động cơ  xe máy, ô tô , nhưng hiểu rộng ra chúng ta còn có rất nhiều dạng động cơ  khác nhau :động cơ máy hơi nước, động cơ xăng, động cơ diêzen,  động cơ tuyêc bin phản lực, động cơ tuyêc bịn cánh quạt ,động cơ tuyêcbin khí,động cơ tuyêc bin nước,động cơ tuyêc bin hơi nước,động cơ tuyêc bin hơi , động cơ máy thuỷ,  động cơ trạm máy cố định ,động cơ mới, động cơ cũ, động cơ thiết kế thuộc các thế hệ trước đại chiến thế giới II, những năm 60,70,80, 90 ,những năm 2000 v.v... Liệt kê một số kiểu động cơ như trên để nói ra rằng lĩnh vực này rất phức tạp, phong phú, không thể đồng nhất mọi đối tượng mà cần xác định rõ , thật cụ thể

Thí dụ cũng là động cơ đốt trong nhưng các máy dùng cho hàng hải lại được phép sử dụng nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh cao ,do đó lại phải dùng những dầu có phụ gia kiềm cao tói mức trị số kiềm tổng -TBN có thể lên tới hàng chục trong khi chỉ số TBN của các dầu động cơ mặt đất thường là dưới 10 . Những dầu ngành hàng không lại phải có khả năng làm việc ở nhiệt độ âm ( cỡ - 40OC, -50 OC ) đòi hỏi dùng dầu có nhiệt độ đông dặc rất thấp , những máy có dính dáng đến hơi nước lại phải dùng các loại dầu có khả năng khử nhũ cao .....

Để thu lại phạm vi của bài này chúng tôi chỉ nêu những điều có liên quan tới động cơ ô tô để làm ví dụ

Việc sử dụng dầu mỡ bôi trơn trước hết phải tuân theo chỉ dẫn của nhà sản xuất động cơ xe máy .Người sử dụng phải căn cứ vào catalog của nhà chế tạo xe máy . Là người thiết kế chế tạo  họ hiểu rõ sản phẩm của họ hơn bất kỳ ai và họ phải có trách nhiệm về mặt pháp lý với người tiêu dùng sản phẩm của họ mà một trong những thông tin mà nhà sản xuất cần cho người tiêu dùng biết là việc sử dụng dầu mỡ trong việc bôi trơn xe máy.

Người sản xuất xe máy phải chỉ ra độ nhớt và chất lượng của dầu động cơ cho xe máy mình làm ra ..

Trong việc lựa chọn dầu cần phải chọn độ nhớt thích hợp . Có dùng dầu tốt đến đâu mà chọn dầu sai về độ nhớt là điều không chấp nhận được

Độ nhớt thế nào là thích hợp cho xe máy . Thích hợp là không quá cao cũng không quá thấp ,

Độ nhớp thấp không đủ bôi trơn cho xe máy dẫn đến hiện tượng máy móc bị mài mòn , bôi trơn không đảm bảo có thể dẫn đến lột biện ,

Độ nhớt quá cao thì xe máy phải tốn một phần công suất  để khắc phục ma sát và trong một số trường hợp nếu độ nhớt cao quá thì việc truyền dẫn dầu để bôi trơn bị khó khăn , thậm chí ở những giai doạn khởi đông máy khôn g tạo được nêm dầu , xảy ra ma sát khô gây nên mài mòn .

Nhà sản xuất chỉ có thể chỉ ra độ nhớt cần có trong điều kiển hoạt động bình thường, thường xuyên của xe máy còn những trường hợp như xe đang thời kỳ chạy rà trơn , xe vừa trải qua đại tu hay xe dùng quá lâu thì người sử dụng phải có cách vận dụng thích hợp .Chẳng hạn xe mới phải trải qua giai đoạn chạy rà trơn lúc này khe hở xilanh pit tông là và giữa các bề mặt ma sát là rất nhỏ nên cần thiết dùng dầu có độ nhớt thấp hơn qui định một chút sao cho trong quá trình chạy ra trơn các mạt kim loại bị mài mòn dễ được phân tán vào dầu bôi trơn để rồi sẽ bị loại ra ở các bầu lọc,

Sau giai đoạn chạy rà ,người sử dụng phải dùng dầu theo đúng qui định của hãng sản xuất xe máy.

Trong trường hợp xe , máy đã dùng quá lâu các chi thiết ma sát đặc biệt là cặp pit tông- xy lanh đã bị mài mòn nhiều thì để bôi tron tốt , để tăng độ kín người ta lại phải dùng dầu có độ nhớt cao hơn qui định một chút . Dùng từ “một chút “ có nghĩa phiếm định, nghĩa là người chủ xe máy phải căn cứ vào điều kiện cụ thể mà gia tăng độ nhớt cho thích hợp  bằng cách trộn dầu có độ nhớt thấp và dầu có độ nhớt cao theo một tỷ lệ nào đó.

Độ nhớt thích hợp còn có ý nghĩa  là nó phải được chọn thích hợp với nhiệt độ  của môi trường . Khi xe máy làm việc dầu nóng lên đến một độ nào đó do nhiệt ma sát của máy và do nhiệt cháy nóng của nhiên liệu ; Người ta dùng dầu với tư cách là chất bôi trơn vừa là chất tải nhiệt đưa nhiệt ra bộ làm mát bằng khí , bằng nước và bằng quạt gió tất cả những diểm đó dẫn đến dầu đạt tới một nhiệt độ cân bằng tương đối nào nó  tùy theo điều kiện cụ thể kể cả nhiệt độ môi trường . Nhiệt độ này được phản ảnh ở đồng hồ nhiệt độ Giá trị này cho ta một chỉ dẫn tương đối về điều kiện nhiệt khi dầu làm việc trong động cơ tuy vậy nó không phải như nhau ở mọi thời điểm , mọi vị trí . Để tiện cho việc chỉ dẫn sử dụng dầu người ta lấy gốc nhiệt độ ở 100OC và đưa ra chỉ tiêu về độ nhớt cửa dầu động cơ ở nhiệt độ đó. Vậy độ nhớt ở 100OC phần nào phản ánh được độ nhớt của dầu trong điều kiện chạy máy,

Khi xe máy không làm việc nhiệt độ của dầu động cơ đi đén cân bằng với nhiệt độ môi trường . Điều này cũng có thể hiểu một cách giản đơn là lúc khởi động xe máy

dầu bôi trơn có độ nhớt cao hơn khi xe máy đang làm việc .Nhiệt độ môi trường bên ngoài tùy từng khu vực , từng mùa rất là khác nhau để có mốc nhiệt độ để so sánh người ta thừa nhận  lấy độ nhớt của dầu ở 40OC ( tức là 100OF) . Độ nhớt  của dầu ở 40OC và ở 100OC có thể khác nhau 8-10 lần có nghĩa là chỉ riêng về độ nhớt thoooi cũng có thể thấy điều kiện bôi trơn của dầu động cơ là rất khác nhau .Vì vậy :

Người ta lấy độ nhớt của dầu ở 100 OC làm cơ sở để lựa chọn dầu động cơ và lưu ý người sử dụng phải xét đến mặt nhiệt độ của môi trường . Trong khi đó với những dầu khác như dầu công nghiệp công nghiệp, dầu thủy lực thì chỉ cần  lấy  gốc độ nhớt ở 40OC vì sự thay đổi nhiệt độ của dầu khi làm việc không khác nhiều lắm với nhiệt độ môi trường ngoài.

Trong quá trình bôi trơn xe ,máy nhiệt độ dầu có hai khuynh hướng là nóng lên do ma sát

và do tiếp xúc với nhiệt của động cơ (nhiên liệu cháy sinh ra) và khuynh hướng nguội đi do  môi trường bên ngoài mà người ta tìm cách làm mát bằng nước, bằng không khí .

Biên độ và tần số của sự dao động nhiệt độ dó tùy vào điều kiện hoạt động của máy móc, diều kiện thiết kế chế tạo mà diễn biến phức tạp. Một giá trị độ nhớt có thể thích hợp với bôi trơn ở nhiệt độ này nhưng lại không thích hợp cho việc bôi trơn ở nhiệt độ khác .

Nếu sự chênh lệch về độ nhớt theo nhiệt độ là quá nhiều thì việc bôi trơn sẽ không tốt

Để có thể đánh giá  tính thay đổi của độ nhớt của dầu theo nhiêt độ người ta đưa ra khái niệm về chỉ số độ nhớt . Một thứ dầu có chỉ số độ nhớt càng cao thì độ nhớt thay đổi ít khi nhiệt độ thay đổi .Để có thể đo và tính được chỉ số độ nhớt của dầu người ta đo độ nhớt của dầu ở 100 OC và ở 40OC rồi qua một số phép tính và tra bảng người ta tìm ra được chỉ số độ nhớt . Việc tính toán qua máy tính  chỉ mất vài giây song nếu làm thủ công thì phải mất ít nhất 30 phút . Để có một sự đánh giá tương đối về sự thay đổi của độ nhớt của dầu theo nhiệt độ chúng ta có thể lấy tỉ số độ nhớt của dầu ở 40OC so với độ nhớt của dầu đó ở 100OC .Các dầu có nguồn gốc dầu thực vật dầu tổng hợp thường có chỉ số độ nhớt cao . Để cải thiện tính nhiệt -nhớt của dầu hay nói cách khác là để nâng cao chỉ số nhớt của dầu người ta sử dụng phụ gia .

Như vậy riêng về mặt bôi trơn đối với dầu động cơ người ta cần xét hay chỉ tiêu là độ nhớt ở 100OC và chỉ số độ nhớt với khuyến cáo là chỉ số độ nhớt càng cao ,càng gần với 100 thì dầu bôi trơn càng tốt,

Để bôi trơn được dầu phải đáp ứng được về độ nhớt song để dầu làm việc được tốt m được lâu ( dầu có tuổi thọ cao) thì dầu phải  thỏa mãn các yêu cầu về chức năng của mình nghĩa là  dầu phải có chất lượng cao,

 

Một dầu động cơ kém chất lượng có thể phát sinh các vấn đề như sau :

1.Độ nhớt bị thay đổi (có thể tăng hoặc giảm) trong quá trính sử dụng mà chủ yếu hay xảy ra  là hiện tượng dầu bị giảm độ nhớt do bị giảm độ nhớt do  phần nặng không đốt cháy hết của nhiên liệu  trộn lẫn vào dầu, do quá trình cracking dầu xảy ra ở những chỗ nhiệt độ cao ( thành xi lanh. pit tông, mặt pít tông ) và sự có mặt của xúc tác mà trong một vài trường hợp lại chính là phụ gia  .

2 Trong quá trình làm việc ở động cơ đốt trong , dầu nhờn còn có mặt cả ở bên trong buồng đốt , tiếp xúc với khí cháy và bị cháy phần nào nên sinh ra tro,cặn than , các chất này theo dầu đi tới các mặt ma sát  gây tác dụng mài mòn đối với các bề mặt ma sát

3.Trong quá trình làm viêc bị  đốt nóng lại tiệp xúc với oxy nên dầu bị o xi hóa tạo ra các chất có tính a xit  hoặc dầu bị thâm nhập bởi các khí có tính a xít do nhiên liệu cháy mà có ( như khí SO2 , SO3) . Độ a xit của dầu tăng lên , độ kiềm của dầu giảm đi làm tăng khả năng ăn mòn đối với các  chi tiết kim loại mà nó tiếp xúc,

3.Bản thân sự biến chất của dầu cộng với các cặn bẩn làm cho dầu bị vón cục gây nên sự tắc nghẽn các đường dẫn dầu, phá hoại sự bôi trợn

Tất cả các yếu tố có hại đó đều có thể được khắc phục bằng các chất phụ gia  như phụ gia tảy rửa làm cho các chất bẩn được rửa khỏi bề mặt ma sát như thành pít tông xy lanh, mặt quả nén , phụ gia phân tán làm cho các chất bẩn không bị vón thành cục

Nhờ có các phụ gia ta có các dầu  động cơ  có chất lượng khác nhau .

Trong sự tiến bộ về khoa học công nghệ chế tạo động cơ thì độ khắc nghiệt về điều kiện làm việc của dầu động cơ là theo khuynh hướng tăng lên ( tăng lên về công suất , tải trọng, vòng quay,...) cho nên nhu cầu đòi hỏi dầu có chất lượng cao càng nhiều hơn, lớn hơn . Điều này chỉ ra nhu cầu và động lực để hình thành các dầu mới chất lượng cao, điều náy cũng chỉ ra là nếu chỉ dùng các dầu chất lượng thấp là không thể được

Khác với các nước lạc hậu như Việt nam, ở các nước tiên tiến , vấn đề tiết kiệm thời gian đi liền với hiệu quả kinh tế vì thế người ta cần có những loại dầu chất lượng cao để kéo dài thời hạn thay dầu , giảm bớt thời giờ đưa xe máy vào nằm xưởng . Điều này cũng nói một điều ngược lại là nếu dùng dầu chất lượng thấp thì dầu dẽ biến chất , thời hạn thay dầu sẽ phải ngắn đi nêu như không muốn có sự trả giá là máy bị hỏng . Trong quá khứ chúng ta có thể thấy một số ví dụ về việc chọn dầu động cơ trong sự điều chỉnh về mối quan hệ “độ nhót - chất lượng “ như trường hợp người ta có thẻ dùng dầu MC-20 , MK-22 là những dầu có độ nhớt cao nhưng không có phụ gia để bôi trơn động cơ thay cho dầu động cơ xe tăng MT-16p là dầu có phụ gia đặc biệt . Phải chăng đây cũng là kiểu “lấy cần cù bù thông minh” Chúng tôi chỉ muốn nói rằng cần dùng dầu động cơ có độ nhớt thích hợp,dầu có chất lượng cao , không để động cơ chạy thiếu dầu . Nếu buộc phải dùng dầu chất lượng thấp thì chỉ là tạm thời , phải rút ngắn thời hạn thay dầu , phải theo dõi dầu chặt chẽ , tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra

 
« Bắt đầuLùi1234Tiếp theoCuối »

Trang 2 trong tổng số 4